
Các Triều Đại Việt Nam
- Nhà xuất bản
- Văn Hóa - Thông Tin
- Ngôn ngữ
- en
- Định dạng
- EPUB 2.0 · 803 KB
- Số chương
- 25
Giới thiệu
Cuốn sách Các Triều Đại Việt Nam có dung lượng vừa phải nhưng cung cấp nhiều thông tin cơ bản, bao quát toàn bộ tiến trình phát triển lịch sử dân tộc. Các công tích hành trạng của những vị vua từ thời Hùng Vương dựng nước đến khi vương triều Nguyễn chính thức kết thúc vai trò lịch sử đều được nhóm tác giả chọn lọc, giới thiệu một cách cẩn trọng, chính xác. Các triều đại Việt Nam có giá trị không chỉ về tri thức mà còn bồi đắp thêm niềm tin về khi phách, tài trí và lòng yêu nước của người Việt Nam.
CÁC TRIỀU ĐẠI VIỆT NAM Thời Hồng Bàng (năm 2879 - 258 trước Công nguyên) nước ta gọi là Văn Lang. Thời Thục An Dương Vương (năm 257 - 207 trước Công nguyên) gọi là Âu Lạc. Dưới thời Bắc thuộc, nhà Hán chia đất nước ta thành các quận thau chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam. Cuối thời Đông Hán đổi gọi là Giao Châu. Năm 544, sau khi đánh đuổi được bọn đô hộ nhà lương, Lý Bí lên ngôi vua, tự xưng là Nam Việt đế đặt quốc hiệu là Vạn Xuân. Năm 602 nhà Tùy (603-617) chiếm lại nước ta đặt thành Giao Châu. Năm 622 nhà Đường (618-907) đổi làm An Nam đô hộ phủ.
Năm 968 sau khi dẹp xong loạn Thập nhị sứ quân, lập lên một nước độc lập, Đinh Tiên Hoàng đặt tên nước là Đại Cồ Việt.
Sang thời Lý, vua Lý Thánh Tông đổi là Đại Việt (từ năm 1054).
Đến thời Nguyễn, sau khi đánh bại nhà Tây Sơn, thiết lập chính quyền trong cả nước, vua Gia Long đặt quốc hiệu là Việt Nam (từ năm 1804). Năm 1838 vua Minh Mệnh định lại quốc hiệu là Đại Nam.
Sau cách mạng Tháng Tám và quốc khánh mùng 2 tháng Chín năm 1945, quốc hiệu nước ta là Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Miền Nam hoàn toàn giải phóng, thống nhất đất nước, từ năm 1976 quốc hiệu nước ta là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Diện tích Việt Nam hiện nay khoảng 329.600 km2, nằm trong khoảng 8 o 30' – 23 o 22' độ vĩ Bắc với một chiều dài khoảng 1650 km, phía Bắc giáp Trung Quốc, phía Tây giáp Lào và Cam Pu Chia, Đông và Nam giáp biển Đông. Nước Việt nam nằm ở khu vực nối liền hai đại dương là Thái Bình Dương và Ân Độ Dương, nối vùng hải đảo với lục địa châu Á. Do vị trí ngã ba đường của các trung tâm văn minh lớn, cổ xưa của nhân loại, nên Việt Nam cũng sớm là điểm giao lưu của những nền văn minh đó là nơi tụ cư của nhiều tộc người khác nhau. Các phát hiện khảo cổ học cho thấy Việt Nam là một trong những nơi có mặt loài người sớm nhất. Trên cơ sở cư dân bản địa sinh sống trên đất Việt Nam và là chủ nhân của nền văn hóa đồ đồng thau rực rỡ các bộ lạc người Lạc Việt và Âu Việt, quá trình hình thành tộc người ở nước ta là một quá trình lâu dài, bao gồm nhiều đợt di cư của các tộc người tiếp theo.
Việt Nam là một quốc gia thống nhất gồm 54 tộc người sinh sống với số dân là 76.324.753 người (kết quả điều tra đến 1/4/1999), trong đó người Kinh chiếm 87% dân số, 53 tộc ngưu còn lại chiếm 13%. Đặc điểm nổi bật của sự phân bố dân cư của các tộc người ở nước ta làm tình trạng cư trú xen kẽ nhau nên các tộc người không có lãnh thổ rõ rệt. Căn cứ vào ngôn ngữ, các nhà dân tộc học chia các tộc người thành 8 nhóm như sau:
1. Việt Mường (gồm Việt, Mường, Chứt…)
2. Tày - Thác (gồm Tày, Nùng, Thái, Bố Y, Cao Lan, Sán Chỉ, Lào...)
3. H'mông - Dao (gồm H'mông, Dao, Pà Thêm)
4. Tạng - Miến (gồm Hà Nhì, Lô Lô, Xá...)
5. Hán (gồm Hoa, Sán Dìu...)
6. Môn - Khơme (Khơmú, Kháng, Xinh Mun, Hơrê, Xơđăng, Bang, Kho, Mạ, Rơ măm, Khơ me...)
7. Mã Lai - Đa đảo (ngồm _ Chăm, Giơ rai, Êđê, Raglai...)
8. Hỗn hợp Nam Á (gồm La chỉ, Laha, Pu péo...)
*** TRUYỀN THUYẾT KINH DƯƠNG VƯƠNG VÀ HỒNG BÀNG THỊ (Năm 2879 - 258 trước Công nguyên)
Theo truyền thuyết thì thuỷ tổ dân tộc ta là Kinh Dương Vương, hiện còn có mộ tại làng An Lữ, Thuận Thành, Bắc Ninh.
Nguyên Đế Minh là cháu ba đời của vua Thần Nông, đi tuần thú phương Nam đến núi Ngũ Linh (Hồ Nam, Trung Quốc) đóng lại đó rồi lấy con gái bà Vũ Tiên, sau đó sinh được một người con trai tư chất thông minh đặt tên là Lộc Tục. Sau Đế Minh truyền ngôi cho con trưởng là Đế Nghi, làm vua phương Bắc và phong cho Lộc Tục làm vua phương Nam xưng là Kinh Dương Vương làm vua vào quãng năm Nhâm Tuất (năm 2879 trước Công nguyên) và lấy con gái Thần Long là vua hồ Động Đình sinh được một con trai đặt tên là Sùng Lãm, nối ngôi làm vua xưng là Lạc Long Quân, sau lấy con gái Đế Lai là Âu Cơ sinh một bọc trăm trứng, trăm trứng ấy nở thành trăm con trai.
Một ngày, Long Quân nói với âu Cơ rằng: "Ta là giống Rồng, mình là giống Tiên, thủy hỏa khắc nhau, không ở cùng nhau được". Hai người bèn chia con ra ở riêng. Năm mươi người theo mẹ về núi, năm mươi người theo cha về biển, chia nhau thống trị các sứ đó, đó là thủy tổ của các nhóm Bách Việt. Người con trưởng tổng số các con theo mẹ lên Phong Sơn, được tôn làm vua gọi là Hùng Vương.
NƯỚC VĂN LANG VÀ CÁC VUA HÙNG Theo sử cũ thì nước Văn Lang chia làm 15 bộ:
1. Văn Lang (Bạch Hạc, Phú Thọ)
2. Châu Diên (Sơn Tây)
3. Phúc Lộc (Sơn Tây)
4. Tân Hưng (Hưng Hoá - Tuyên Quang)
5. Vũ Định (Thái Nguyên - Cao Bằng)
6. Vũ Ninh (Bắc Ninh)
7. Lục Hải (Lạng Sơn)
8. Ninh Hải (Quảng Ninh)
9. Dương Tuyến (Hải Dương)
10. Giao chỉ (Hà Nội - Hưng Yên, Nam Định, Ninh Bình)
11. Cửu Chân (Thanh Hoá)
12. Hoài Hoan (Nghệ An)
13. Cửu Đức (Hà Tĩnh)
14. Việt Thường (Quảng Bình, Quảng Trị)
15. Bình Văn (?)
Hùng Vương đóng đô ở Phong Châu (Việt Trì, Phú Thọ) đặt tướng văn là Lạc Hầu, tướng võ gọi là Lạc Tướng, con trai vua gọi là Quan Lang, con gái vua gọi là Mị Nương, các quan nhỏ gọi là Bồ Chính.
Thời ấy người Văn Lang lấy vỏ cây làm áo, bện cỏ làm chiếu, lấy nước nhựa cây làm rượu, lấy bột cây quang lang làm cơm (tức cây đao, thân to như cây cọ, thân cây có bột ăn được) lấy cầm thú ngư trùng làm mắm, lấy rễ gừng làm muối. Cày bằng đao, cắt bằng lửa, nấu cơm nếp bằng ống tre, gác cây làm nhà sàn, cắt ngắn tóc để đi trong rừng cho tiện, khi có người chết thì lấy cối chày không ra mà giã để báo tin cho hàng xóm, trai gái lấy nhau chưa dùng trầu cau mà lấy phong muối làm đầu v.v...
Đời Hùng Vương thứ nhất, người nước Văn Lang làm nghề chài lưới, cứ hay bị thuồng luồng làm hại, vua mới bắt dân lấy chàm vẽ mình để thú dữ tưởng là đồng loại không làm hại được nữa. (Tục xăm mình này đến đời vua Trần Anh Tông mới bỏ)
Sử cũ cũng chép thuyền của ta ở đằng mũi hay làm hai con mắt, để thủy quái ở sông, bể trông thấy mà sợ.
Thông qua những truyền thuyết trong 15 bộ lạc vừa kể trên, bộ lạc Văn Lang mạnh nhất. Bộ lạc này có vị thủ lĩnh tà
Mục lục
- CÁC TRIỀU ĐẠI VIỆT NAM
- 1. VIỆT NAM THỜI DỰNG NƯỚC
- 2. NHÀ NƯỚC SAU CÔNG NGUYÊN BẮC THUỘC LẦN THỨ NHẤT
- 3. NƯỚC VẠN XUÂN ĐỘC LẬP
- 4. NHÀ TÙY ĐƯỜNG VÀ CÁC CUỘC KHỞI NGHĨA (603-939)
- 5. THỜI KỲ TỰ CHỦ HỌ KHÚC DẤY NGHIỆP
- 6. TRIỀU NGÔ (939-965)
- 7. NHÀ ĐINH VÀ SỰ NGHIỆP THỐNG NHẤT NƯỚC NHÀ
- 8. NHÀ TIỀN LÊ (980-1009)
- 9. TRIỀU LÝ (1010-1225)
- 10. TRIỀU TRẦN (1225-1400)
- 11. TRIỀU HỒ (1400-1407) VÀ NƯỚC ĐẠI NGU
- 12. TRIỀU HẬU TRẦN (1407-1413)
- 13. TRIỀU LÊ SƠ (1428-1527)
- 14. TRIỀU MẠC (1527-1592)
- 15. CÁC TRIỀU HẬU LÊ (LÊ TRUNG HƯNG) NAM - BẮC TRIỀU (1533-1593)
- 16. VUA LÊ – CHÚA TRỊNH
- 17. TRỊNH – NGUYỄN PHÂN TRANH
- 18. TRIỀU TÂY SƠN (1778-1802)
- 19. QUANG TRUNG HOÀNG ĐẾ
- 20. DÒNG DÕI CHÚA TRỊNH (1545-1786)
- 21. DÒNG DÕI CÁC CHÚA NGUYỄN (1600-1802)
- 22. TRIỀU NGUYỄN THỜI KỲ ĐỘC LẬP (1802-1883)
- 23. THỜI KỲ BẮT ĐẦU THUỘC PHÁP
- MỤC LỤC