
Chiêu Hồn Thập Loại Chúng Sinh
- Nhà xuất bản
- NAM-CHI TÙNG-THƯ 1965
- Ngôn ngữ
- Tiếng Việt
- Định dạng
- EPUB 2.0 · 765 KB
- Số chương
- 4
Giới thiệu
Văn tế thập loại chúng sinh còn được gọi là Văn chiêu hồn hay Văn tế chiêu hồn là một bài văn tế bằng chữ Nôm soạn vào đầu thế kỷ 19. Tác phẩm được coi là một sáng tác xuất sắc của đại thi hào Nguyễn Du.
Văn tế thập loại chúng sinh, hiện chưa rõ thời điểm sáng tác. Trong văn bản do Đàm Quang Thiện hiệu chú có dẫn lại ý của ông Trần Thanh Mại trên
Đông Dương tuần báo năm 1939, thì Nguyễn Du viết bài văn tế này sau một mùa dịch khủng khiếp làm hằng triệu người chết, khắp non sông đất nước âm khí nặng nề, và ở khắp các chùa, người ta đều lập đàn giải thoát để cầu siêu cho hàng triệu linh hồn. Tuy nhiên, Hoàng Xuân Hãn lại cho rằng có lẽ Nguyễn Du viết tác phẩm này trước cả
Truyện Kiều, tức khi ông còn làm cai bạ ở Quảng Bình.
Sách Từ điển văn học (bộ mới)
[1]
cho biết người đầu tiên phát hiện bài văn tại chùa Diệc ở thành phố Vinh là GS. Lê Thước. Nhưng cổ nhất là bản khắc ván năm 1895 của nhà sư Chính Đại (nên được gọi là bản Chính Đại), được tàng trữ ở chùa Hưng Phúc, xã Xuân Lôi, huyện Võ Giàng, tỉnh Bắc Ninh. Từ hai bản này, Hoàng Xuân Hãn khảo chứng, hiệu đính kỹ lưỡng và đã đưa ra một văn bản khác có độ tin cậy cao hơn...
*** Nhìn sâu vào thực-cảnh thế-gian, không ai là không nhận-thức được thế-gian là vô-thường; đau khổ nhiều hơn vui sướng.
Qua sự thực-nghiệm của kiếp sống, với cõi lòng bi-cảm của con người lý-tưởng, Tổ Như Tiên-sinh đã dệt nên những vần thơ dân-tộc, nói lên nỗi niềm thương xót trong sự cầu mong và thức tỉnh.
Làm sáng tỏ những nét vi-diệu của người xưa, giúp thêm sự hiểu thấu cho người sau, ông Đàm-quang-Thiện đã đem khả-năng của mình hiệu-chú tập văn này.
Dù sáng-tạo, hiệu-chú, tùy-hỷ hay nghiên-cứu đều cảm-thông nỗi đáng thương của con người trong vòng sinh hóa, hóa sinh, so chính nghiệp-lực con người dắt-dẫn; trao lại cho con người một món ăn tinh-thần, biết rõ nhân-quả, khơi mở tâm từ-bi, giác-ngộ, đem con người ra khỏi vòng luân-hồi và nhất là, chung góp phần xây-dựng phong-phú vào công-nghiệp văn-hóa dân-tộc.
Tôi ghi đây vài lời tán-niệm hòa vui cùng sự mong ước của hiệu-chú-giả.
Sài-thành, Quý-Thu năm Ất-Tỵ (1965)
THÍCH TÂM-CHÂU *** GIẢI THÍCH NHAN ĐỀ:
« CHIÊU HỒN THẬP LOẠI CHÚNG SINH » Nhan-đề bài thơ này, có nơi là « Chiêu hồn »; có nơi là « Văn tế thập loại chúng-sinh »; chúng tôi ghép hai nhan-đề với nhau, để nhan-đề có đầy-đủ ý-nghĩa của mỗi nhan-đề riêng-biệt: « Chiêu-hồn Thập Loại Chúng-Sinh » bằng chữ hoa, vì danh-từ này đã thành như danh-từ riêng để trỏ toàn-thể những người « bất-đắc-kỳ-tử » mà không được ai thờ cúng.
Chiêu 招: lấy tay vẫn mà vời lại; hồn 魂 phần tinh-thần, vô-hình của con người; gọi hồn về.
* Theo quan niệm của Trung-Hoa và Việt-Nam từ xưa, thì người ta gồm có ba phần: thân, phách, hồn.
Thân 身 hay thân-thể 身體 là phần vật-chất, hữu-hình, bằng thịt, xương, não, huyết, v.v…; khi người ta chết, thì phần này thối-nát ra mà trở về với đất-cát.
Phách 魄 tiếng nôm là vía, là phần vô-hình, do thân-thể biểu-hiện ra, nên khi thân-thể chết, thì phách cũng không còn nữa. Theo Đạo-gia, thì người ta có bảy phách, là Thi-cầu, Phục-thi, Tước-âm, Thôn tặc, Phi-độc, Trừ-uế và Xú-phế; bảy phách còn được gọi là bảy trọc-quỷ, tức là thứ hồn đục, hạ cấp khác với linh-hồn, trong và cao hơn.
Hồn 靈 hay linh-hồn 靈魂 là phần tinh-thần, vô-hình, chỉ nhập vào thân-thể mà thôi, chứ không phải là biểu-hiện của thân-thể, nên khi thân-thể chết đi, thì linh-hồn lại xuất ra, mà tiếp-tục tồn-tại trong thế-giới vô-hình.
Theo sách « Vân cấp thất thiêm », thì người ta có ba hồn, là Thai-quang, tức khí dương-hòa cực trong, Sảng-linh, tức âm-khí biến, và U-tinh, tức âm-khí tạp,
Theo một thuyết của Phật-giáo, thì Thực-vật chỉ có Sinh-hồn, Động-vật có Sinh-hồn và Giác-hồn, Người ta có Sinh-hồn, Giác-hồn và Linh-hồn.
Vẫn theo quan-niệm cổ-truyền của Tàu và Ta, thì đàn-bà vật-chất hơn đàn-ông, vì có thêm hai phách, vía, hay trọc-quỷ nữa, là biểu-hiện của cơ-quan thụ-thai và kinh-nguyệt. Do đó, mà người ta nói « ba hồn bảy vía » nếu là đàn-ông; và « ba hồn chín vía », nếu là đàn-bà.
Dựa vào Khoa-học Tây-phương, ta có thể cho thân-thể là các cơ-quan: mắt, tai, mũi, lưỡi, da, não, thần-kinh; phách hay vía là chức-vụ của các cơ-quan ấy: thị-giác, thính-giác, tị-giác, vị-giác, xúc-giác, tri-giác, tri-thức, nói tóm lại là cảm-tri-thức. Còn linh-hồn là tinh-thần bất-diệt.
Cũng có người cho rằng phách tương-ứng với các cửa của thân-thể mở ra ngoại-giới, khiến nội-thân thông được với ngoại-giới. Đàn ông có bảy phách tương-ứng với hai lỗ tai, hai lỗ mũi, lỗ miệng, lỗ đại-tiện, lỗ tiểu-tiện. Đàn bà có thêm hai phách nữa để tương ứng với âm-đạo và tử-cung đạo.
* Theo một tín-ngưỡng của Tàu và Ta xưa, bắt nguồn Phật-giáo, thì:
« Thách là thể-phách, còn là tinh-anh ».
(Kiều, 116)
khi người ta chết, thì chỉ có thân chết và phách mất thật mà thôi, còn linh-hồn vẫn sống; nếu là người tốt, đạo-đức, thì linh-hồn lại được đầu-thai, thành người khác, với một cuộc đời hạnh-phúc hơn; nếu là người xấu, độc-ác, thì linh-hồn có thể cũng được đầu thai, thành người khác, với một cuộc đời khổ-sở hơn; nếu là người xấu quá, thì linh-hồn phải đầu-thai làm súc-vật, như trâu, ngựa, chẳng hạn. Ấy là nói những người được chết ở nhà, có con-cháu thờ cúng. Còn những người chết « bất-đắc-kỳ-tử », chết đuối dưới bể, dưới sông, chết bệnh nơi rừng thiêng nước độc, chết không ai chôn-cất, không ai thờ-cúng, thì linh-hồn thành ma-quỷ, ma đói quỷ khát, chẳng bao giờ được đầu-thai lên làm người hoặc làm súc-vật cả. Những linh-hồn ấy, đại-đa-số phải sống dưới địa-ngục, như người trần-thế phải sống trong đề-lao vậy; chỉ trừ một thiểu-số làm ma đói quỷ khát, cũng luẩn-quẩn gần nơi đã thác, phải rình cướp miếng ăn ở những nơi có thờ cúng, như bọn hành-khất, bọn đầu trộm đuôi cướp, sống trên trần-thế vậy.
May thay, một năm có một ngày, tất cả những linh-hồn ấy được thả ra khỏi các ngục, linh-hồn thoát ngục, cũng như ma quỷ đói khát, được tự do đi lại: đó là ngày 15 tháng 7 âm-lịch, ngày « vong nhân xá tội »: dưới âm-phủ, tội những kẻ ấy được quên đi, được tạm tha, để họ được hoàn-toàn tự-do một ngày một đêm. Người trần-thế mới, nhân ngày ấy, lập đàn, rước sư, rước thầy, làm lễ giải oan cứu khổ cho họ, tụng kinh cầu Phật phù-hộ cho họ thoát khỏi vĩnh-viễn cảnh khổ, hoặc được hóa-sinh, đầu-thai lên làm người hoặc sinh-vật, hoặc đư
Mục lục
- TỰA
- GIẢI THÍCH NHAN ĐỀ : « CHIÊU HỒN THẬP LOẠI CHÚNG SINH »
- CHIÊU HỒN THẬP LOẠI CHÚNG SINH
- CHÚ THÍCH PHỤ THÊM


