
Chùa Đàn
- Nhà xuất bản
- Hội Nhà Văn
- Năm
- 2013
- Ngôn ngữ
- Tiếng Việt
- Định dạng
- EPUB 2.0 · 745 KB
- Số chương
- 3
Giới thiệu
Tóm tắt & Review (Đánh Giá) tiểu thuyết Chùa Đàn của tác giả Nguyễn Tuân.
Tóm tắt tiểu thuyết "Chùa Đàn""Chùa Đàn"là một tác phẩm của Nguyễn Tuân, được viết vào năm 1945 và hoàn thiện với ba phần vào năm 1946 sau khi ông giác ngộ Cách mạng. Tác phẩm ban đầu mang tên
Tâm sự của nước độc, nằm trong tập Yêu ngôn (1999), phản ánh giai đoạn văn học ma mị của Nguyễn Tuân, chịu ảnh hưởng từ
Liêu trai chí dị của Bố Tùng Linh. Sau này, ông bổ sung phần Dựng ở đầu và Mưỡu cuối ở kết, tạo nên một cấu trúc hoàn chỉnh.
Đọc Sách Điện Tử Câu chuyện xoay quanh Lãnh Út, một người đàn ông chìm trong đau thương sau cái chết của vợ trong vụ tai nạn tàu hỏa. Anh thù ghét máy móc, cấm mọi thứ hiện đại trong ấp Mê Thảo, nơi anh làm chủ. Bá Nhỡ, người quản gia trung thành từng được Lãnh Út cứu khỏi án tử, vì lòng biết ơn mà quyết tâm đáp ứng mong muốn của chủ: nghe lại tiếng hát ả đào. Bá Nhỡ học đánh đàn đáy – một cây đàn kỳ bí làm từ nắp quan tài của một cô gái đồng trinh, bất chấp lời nguyền từ Chánh Thú, người tạo ra nó. Anh mời cô đầu Tơ đến hát, và trong một đêm nhạc đỉnh cao, cả ba – Lãnh Út, Bá Nhỡ, và đầu Tơ – hòa quyện trong tiếng đàn, tiếng hát. Bá Nhỡ hy sinh mạng sống để “đánh thức” Lãnh Út, giúp anh tìm lại ý nghĩa sống. Một năm sau, ấp Mê Thảo mọc lên chùa Đàn, nơi cô Tơ trông coi, với cây đàn đáy thay cho tượng Phật.
Tác phẩm là sự kết hợp giữa tinh thần “vị nghệ thuật” – cái đẹp kỳ quái, bi ai – và “vị nhân sinh” – lòng khao khát sống và cống hiến của con người.
Review (Đánh giá)
Điểm mạnh:
Phong cách duy mỹ đặc trưng của Nguyễn Tuân:
Chùa Đàn là minh chứng cho tài năng độc đáo của Nguyễn Tuân trong việc tìm kiếm và tôn vinh cái đẹp, dù đó là cái đẹp bi thương, đau đớn. Từng câu chữ thấm đẫm chất thơ, thể hiện sự uyên bác của ông về nghệ thuật ca trù, từ ngón đàn đáy đến giọng hát ả đào.
Tính nghệ thuật và nhân văn hòa quyện: Tác phẩm không chỉ là một câu chuyện ma mị về nghệ thuật mà còn khắc họa sâu sắc khía cạnh nhân sinh. Lãnh Út khao khát tìm lại niềm vui sống, Bá Nhỡ sẵn sàng chết vì chủ, còn đầu Tơ mang nỗi lòng của một nghệ sĩ bị kìm hãm. Sự hy sinh của Bá Nhỡ để “tái sinh” Lãnh Út là một điểm nhấn đầy xúc động.
Cấu trúc độc đáo: Ba phần Dựng – Tâm sự của nước độc – Mưỡu cuối không chỉ phản ánh hoàn cảnh sáng tác mà còn tương ứng với bố cục ba phần của ca trù (mở, chính, kết), thể hiện sự tài tình trong cách Nguyễn Tuân kết nối nội dung và hình thức.
Ngôn ngữ giàu hình ảnh và nhạc tính: Nguyễn Tuân sử dụng ngôn từ phong phú, đa dạng, tạo nên những đoạn văn đẹp như thơ, vừa rùng rợn vừa mê hoặc. Mô tả đêm nhạc với tiếng đàn, tiếng hát và sự “chết dần” của Bá Nhỡ là một tuyệt phẩm văn chương, khiến người đọc vừa hồi hộp vừa xót xa.
Điểm hạn chế:
Phần bổ sung gây tranh cãi: Việc thêm Dựng và Mưỡu cuối tuy làm rõ tinh thần Cách mạng, nhưng một số ý kiến cho rằng đã làm giảm đi vẻ đẹp tự nhiên, ma mị của phần gốc (Tâm sự của nước độc). Phần kết có phần lý tưởng hóa, không còn giữ được sự ám ảnh nguyên thủy.
Tính cách nhân vật chưa sâu: Dù câu chuyện giàu ý nghĩa, các nhân vật như Lãnh Út hay đầu Tơ chưa được khai thác kỹ về nội tâm, khiến người đọc đôi khi chỉ cảm nhận được hành động mà không thấu hiểu hết nỗi đau hay động lực của họ.
Kén độc giả: Với phong cách văn chương cầu kỳ và đề tài nghệ thuật truyền thống, Chùa Đàn có thể khó tiếp cận với độc giả trẻ hiện đại, đặc biệt là những ai không quen thuộc với ca trù hay bối cảnh văn hóa thời bấy giờ.
Cảm nhận tổng quan:
"Chùa Đàn"là một kiệt tác của Nguyễn Tuân, nơi ông kết hợp tài tình giữa cái đẹp nghệ thuật và chiều sâu nhân văn. Tác phẩm không chỉ kể một câu chuyện về sự hy sinh vì nghệ thuật, mà còn là lời ngợi ca cho những con người sống hết mình, dù trong đau khổ. Đọc
Chùa Đàn, người ta vừa bị cuốn vào không khí ma mị, kỳ bí, vừa rung động trước lòng trung thành và khát vọng sống mãnh liệt của các nhân vật.
Dù việc bổ sung hai phần đầu cuối có thể khiến một số người tiếc nuối vẻ đẹp nguyên bản, không thể phủ nhận đây là một trong những tác phẩm tiêu biểu nhất thể hiện phong cách độc đáo của Nguyễn Tuân – không ai có thể bắt chước. Nếu bạn yêu thích văn chương duy mỹ và muốn khám phá một Nguyễn Tuân khác lạ so với
Vang bóng một thời hay Tùy bút sông Đà, thì Chùa Đàn chắc chắn là một hành trình đáng giá.
– Một tác phẩm xuất sắc về nghệ thuật và nhân văn, dù không phải ai cũng dễ dàng cảm nhận hết chiều sâu của nó. Nguyễn Tuân, qua
Chùa Đàn, đã chạm đến “thượng đỉnh” của sự sáng tạo như lời Giáo sư Hoàng Như Mai nhận định.
*** Đa phần người đọc, đặc biệt là người đọc trẻ, biết đến Nguyễn Tuân nhiều hơn với thể loại tùy bút hay truyện ngắn như
Vang bóng một thời, Tùy bút sông Đà…Tuy nhiên, trong giai đoạn 1943 - 1945, Nguyễn Tuân còn theo dòng văn học ma mị bởi sự ảnh hưởng sâu sắc từ các truyện ngắn trong
Liêu trai chí dị của Bố Tùng Linh.
Những “đoản thiên ma quái” như Khóa thi cuối cùng, Trên đỉnh non Tản, Đới roi, Xác ngọc lam, Rượu bệnh, Lửa nến trong tranh, Loạn âm hay
Tâm sự của nước độc (tức là Chùa Đàm) đã được tập hợp vào tập Yêu ngôn in năm 1999.
Chùa Đàn được viết vào năm 1945, tuy nhiên, sau khi Việt Minh giành được chính quyền tại Hà Nội, Nguyễn Tuân đã mau chóng giác ngộ Cách mạng và viết thêm phần đầu mang tên
Dựng và phần kết mang tên Mưỡu cuối cho tác phẩm xuất bản năm 1946. Phần gốc của Chùa Đàn được đặt ở vị trí thứ hai với tên gọi
Tâm sự của nước độc.
Vẫn là phong cách duy mỹ thường thấy ở Nguyễn Tuân, ngòi bút của ông trong tác phẩm này hướng đến việc đi tìm cái đẹp, nhưng không còn là cái đẹp hoài vọng, phảng phất u buồn về một thời xa vắng, về những thú chơi trong
Vang bóng một thời. Cái đẹp của Chùa Đàn kỳ quái, bi thương và đau đớn hơn rất nhiều khi con người ta sẵn sàng hy sinh thân mình để dùng nghệ thuật mà tái sinh cho một người khác.
Đọc Chùa Đàn, ta bắt gặp một Lãnh Út ngày ngày chìm đắm trong đau thương và rượu bởi cái chết của vợ sau vụ tai nạn tàu hỏa. Từ đó, anh thù ghét máy móc, anh cấm tất cả mọi người trong ấp Mê Thảo không được sử dụng vật dụng liên quan đến khoa học hiện đại.
Ta gặp cả một Bá Nhỡ, người quản gia trung tín vốn nhờ vợ chồng Lãnh Út mà thoát khỏi án tử hình vì tội giết người, thế nên hết lòng cung phụng chủ ấp
Mục lục
- I. Dựng
- II. Tâm sự của nước độc
- III. Mưỡu cuối
















