
Cố Định Một Đám Mây
- Nhà xuất bản
- Đà Nẵng
- Ngôn ngữ
- Tiếng Việt
- Định dạng
- EPUB 2.0 · 182 KB
- Số chương
- 3
Giới thiệu
Tóm tắt & Review (Đánh Giá) truyện ngắn Cố Định Một Đám Mây của tác giả Nguyễn Ngọc Tư.
Vài suy ngẫm về truyện Nhan đề giàu suy tưởng Trước hết, hãy nói về nhan đề của truyện ngắn này. "Cố định một đám mây"là một nhan đề rất thi vị và mơ mộng. Sự thi vị, mơ mộng nằm ở mong muốn rất nghệ sĩ của người viết. “Cố định” là làm cho thực thể ở yên một vị trí. Bỏ qua những ngoại lệ của tiến bộ khoa học, mây trời là thứ chẳng thể giữ yên một chỗ. Nghệ sĩ xưa nay luôn có mong muốn xoay ngược dòng chảy của tự nhiên như thế. Sự thi vị ấy chẳng khác gì mong muốn "tắt nắng đi", "buộc gió lại"của thi sĩ Xuân Diệu. Nhưng khác là Xuân Diệu khi xưa chỉ “tắt nắng đi”, “buộc gió lại” trong suy tưởng còn nhân vật trong truyện của Nguyễn Ngọc Tư thì thực đã làm cái việc hoang đường "cố định một đám mây"ấy, dù biết là không thể.
Nhưng nhan đề cũng gợi lên sự không tưởng, vô vọng. Mây là thứ rất mỏng manh, được kết thành từ muôn vàn hạt nước li ti, tan hợp bất kì. Mây ngưng tụ thành mưa, mưa xuống là đời mây cũng hết. Mây vốn thuộc về trời, về thế giới tự nhiên chứ chẳng thuộc về cá nhân nào. Hành động "cố định"ấy gần như là "cố chấp", là việc cố gắng làm một thứ không trong khả năng.
Truyện đặt ra trước mắt người đọc những nghịch lí phũ phàng về cuộc sống nơi miền Nước Mặn.
Tuổi trẻ đối mặt với nỗi chán chường, tuyệt vọng vào cuộc sống.
Ái và Biền còn rất trẻ, tuổi đời chưa chạm đôi mươi. Theo lẽ thông thường, Ái và Biền phải rất háo hức với cuộc sống. Thế nhưng hai người chẳng có vẻ gì hài lòng với tuổi trẻ và sức sống hiện tại. Câu nói đầu tiên của Ái và cũng là những từ mở đầu cho truyện, được nhắc lại hai lần "Chỉ người chết mới chịu ở lại cái đất này”. Điều đó chứng tỏ cô rất chán chường với cuộc sống, với quê hương, với hoàn cảnh hiện tại của mình. Dù cho cô không muốn trở thành "người chết", không muốn ở lại mảnh “đất này”, nhưng cô hoàn toàn không có ý niệm gì về mảnh "đất khác"là đâu, như thế nào. Tức là cô chỉ nhìn vào mặt tiêu cực của vấn đề và cố ý đổ lỗi cho "đất", cho quê hương, cho hiện thực khách quan. Chưa khi nào cô nhìn vào bản thân và mong muốn chính mình thay đổi hiện thực tàn khốc ấy.
Nhưng suy nghĩ tiêu cực của Ái hoàn toàn có cơ sở khi cô sinh ra và lớn lên trên mảnh đất cằn cỗi, đói nghèo này:
"Từ bãi sụt, cát lở, nghêu biến mất, khách du lịch không còn xuất hiện ở bến thuyền, sóng hung bạo vỗ vào dải bờ Đông hẳm đứng. Người Nước Mặn lần lượt rời đi. Như là một cách sống sót. Những chuyến xe đêm đón khách ở cầu Rượu quá quen với cảnh hành khách lút trong đống hành lý chuyển dời. Không thể nhổ ngôi nhà theo, họ mặc kệ nó cho bầy gió mặn và khùng. Người ở lại, với chút tôn trọng những kẻ trốn chạy, nán chờ cho đám mối tràn lên chân vách mới xông vào tháo dỡ căn nhà bỏ hoang, đem về làm củi chụm".
Sự chán chường trong Ái đã hoá thành sự tuyệt vọng. Ái chuội ra khỏi vùng đất quê hương hệt như một người chạy trốn khỏi cái đói, cái nghèo, cái khổ. Nhưng không cần nói cũng biết, Ái đang chạy trốn khỏi một vùng đất cằn cỗi để lao vào một vùng đất chẳng lấy gì chắc chắn cho cô sự no ấm, đủ đầy.
Ái đang lạc lối, có lẽ chính Ái cũng nhận ra điều đó. "Mảnh đất hứa"mà cô thấy trên phim "về một xóm vắng nơi người đàn ông mù sống cùng với đứa trẻ bị dì ghẻ bạo hành, một người đàn bà bị xua đuổi trong quá khứ, cùng với cô gái dở dại dở điên. Cả bài hát trong phim cũng không có chút sinh khí, rặt hắt hiu", dù đìu hiu, mông lung, nhưng cũng đỡ khốn cùng hơn mảnh đất quê hương cô. Ái đánh một canh bạc vào màn đêm mịt mùng, nhất mực tan vào đêm tối còn hơn yên vị tại vùng đất rặt những đói khổ này.
Biền có vẻ lạc quan hơn với cuộc sống và hoàn cảnh hiện tại. Cậu cố chấp hơn vào tương lai của hai người tại miền Nước Mặn:
"Suốt năm nay Biền lì lợm ngồi đó với chiếc đò máy bạc đi, thuyết phục Ái cùng người nhà cô và cả chính mình, rằng nó có một công việc khá ổn. Thêm cả chục ngoài giồng khoai lang ngoài vườn đang xuống củ, và nhà của nó trụ được giông gió phải đến chục năm nữa, mới phải sửa sang".
Nhưng sự lạc quan ấy chỉ len lỏi trong suy nghĩ và những lời nói đến chính cậu cũng không bị thuyết phục. Cậu ít nói, ngay đến cả việc thuyết phục cô bạn gái ở lại bên mình cũng không làm được, làm không tới, quan trọng nhất là chính cậu cũng không tin vào sự khả thi trong lời đề nghị đó. Giữ người yêu lại không được, khuyên nhủ cùng bỏ đi biệt xứ cũng không xong. Ngay đến việc trình diện trước gia đình của người yêu, cậu cũng không đủ can đảm. Đau đớn khi phải thừa nhận, cậu bất lực hệt như một lão già hết gân, "cố gieo vào bụng"người yêu một đứa trẻ cũng không được. Tinh lực, trí lực, năng lực của Biền không thể đủ, dù cậu đang ở giai đoạn sung sức của đời người. Cuối truyện, đến Biền cũng bị thuyết phục hoàn toàn bởi câu nói của người yêu "Giờ Biền biết ra bến đò ngồi còn ý nghĩa gì, bởi sự thật, chỉ người chết mới chịu ở lại bìa cát mặn này. Biền bắt đầu nghĩ về chuyện đó, hết sức nghiêm túc". Cái đói, cái nghèo đã thành công nuốt chửng cá thể cuối cùng. Truyện mở ra tăm tối khép lại tối tăm, hệt như tuổi trẻ của Ái và Biền, chưa kịp nở rộ đã sớm tàn trên vùng đất đói nghèo, cằn cỗi.
Sự sống đối đầu với cái Chết.
Cảnh vật nơi nhị tì và địa thế của vùng Nước Mặn.
"Nắng lịm nhanh, vừa mới nãy thôi vẫn còn rình mò khu tha ma, làm nên những mảng bóng chao động trên thân thể đứa con gái khi thằng Biền rập rờn phủ lên người. Hơi lạnh và bóng tối không một chút do dự, chiếm lấy những thứ nắng vừa bỏ lại. Ở nhị tì suốt nhiều buổi chiều, Biền nhận ra đêm của bìa Nước Mặn khởi phát từ đây, từ những khe nứt của hàng trăm ngôi mộ, bóng tối tuôn ra lênh láng. Những khe gạch bơ phờ cỏ dại, còn là cánh cửa cho linh hồn dưới ấy ra vào,..."Nguyễn Ngọc Tư chọn khung cảnh trên bãi tha ma lúc chiều tà để nói về vùng Nước Mặn. Cả không gian và thời gian đều không lấy gì làm sáng lạn. Cảnh vật buông xuôi để bóng tối, cái chết nuốt chửng ánh sáng và sự sống. Cảnh vật vùng thôn quê toát lên cái giá lạnh hệt như ở âm trì địa ngục.
Ngay cả cái tên "Nước Mặn", cái tên riêng như định mệnh cho sự khó khăn tự nhiên mà vùng đất này phải gánh chịu: "mảnh đất hình ụ mối nằm tách biệt bởi một cửa sông, nhìn như bị thất lạc khỏi lục địa, trong tư thế sẵn sàng hiến thân cho biển". Không ngạc nhiên mà "Đám thanh niên còn lại mỗi đêm nằm nghe tiếng còi xe ướt mèm quốc lộ, nghĩ một nơi chốn xa lạ nào đó, mà tụi nó nay mai sẽ văng mình vào".
Cuộc làm tình của Ái và Biền trong một nghĩa địa Cuộc làm tình của Ái và Biền diễn ra trên khung cảnh và địa thế ngặt nghèo đó đủ hiểu cái kết cho mối quan hệ của hai người. Không một người sống nào chứng giám cho mối quan hệ này mà chỉ có người chết: thằng Thản, người mẹ đáng thương đã mất của Biền,...
Dễ thấy, đây chẳng phải lần làm tình đầu tiên của hai người. Lần này, Biền đã cố tình "quắp cô nhiều hơn một lần", tay Biền vẫn thao thức chờ một nhịp đập bất thường nơi cô người yêu, nhưng rốt cục, vẫn chẳng có tín hiệu nào cho thấy sự sống được hoài thai. Kể cũng phải, trong cái cảnh đói nghèo suy dinh dưỡng của Biền, trong cái khung cảnh ảm đạm có phần đáng sợ, lạnh lẽo nơi bãi tha ma trong thời khắc nhập nhoạng cuối ngày, thật khó để một cuộc làm tình chóng vánh, có phần lén lút lại ươm mầm được một sinh mạng. Sự sống kiệt hẳn rồi, chính nó cũng uể oải, buông xuôi cho cái chết dần dần xâm chiếm.
Cái chết của Thản, đứa trẻ nhà giàu nằm trong mộ.
Những tưởng chỉ người nghèo mới khổ sở, chán nản. Chính người giàu cũng không sống nổi trên mảnh đất này "Bảy năm nay Thản ở yên một chỗ này. Nó giàu, chết vì u não. Mười bốn tuổi, Thản làm nên mớ nghịch lý mà dân Nước Mặn không làm sao chấp nhận được: giàu và chết, trẻ và chết, con nít và mộ lớn. Bù đắp cho cuộc đời ngắn ngủi của nó, người ta xây cho nó ngôi mộ tráng lệ, ngói lợp mái che, xung quanh ốp gạch men, bia đục từ đá hoa cương, nền mộ rộng đủ cho chục ngoài người ngồi bày tiệc"Thản là người duy nhất không vội thoát khỏi mảnh đất này, và Thản là một người chết. Thản trở thành dẫn chứng hùng hồn cho câu nói "Chỉ người chết mới ở lại cái đất này"của Ái. Hay nói cách khác, chỉ người chết
Mục lục
- Bìa
- Tựa đề
- Cố Định Một Đám Mây











