
Đời Tài Hoa
Bộ 1000 eBook Việt Một thời vang bóng
- Nhà xuất bản
- HIỆU SÁCH ĐÔNG-TÂY 1938
- Ngôn ngữ
- Tiếng Việt
- Định dạng
- EPUB 2.0 · 814 KB
- Số chương
- 8
Giới thiệu
MẤY LỜI GIỚI-THIỆU Nếu có một tấm bia kỷ-niệm ghi tên các bậc đại văn hào nước ta đã sống vào khoảng Minh-Mệnh, Thiệu-Trị, Tự-Đức, thì giữa đó ta sẽ thấy lòe vàng mấy chữ: Đinh-Nhật-Thận, Nguyễn-Công-Trứ, Nguyễn-Văn-Siêu, Cao-Bá-Quát, Tùng-Thiện-Vương và Tuy-Lý-Vương… à quên, tôi còn kể sót một người!… Người ấy chưa biết nên để đứng xen vào hàng nào trong mấy hàng đó? Vì người ấy đã từng đem văn tài sang khoe tận bên nước « con Trời », vì người ấy đã làm cho dân « con Trời » – cũng như « con Rồng » « cháu Tiên » ta – đều phải kính phục, tôn xưng lên bậc trạng, tặng cho cái « danh-dự trạng-nguyên »
1 Người ấy là ai? Há không phải là cụ Nhâm-Sơn Nguyễn-Hàm-Ninh mà ông Đẩu-Tiếp Nguyễn-Văn-Đề đã có công nêu lên ở trong tập « Đời tài-hoa » này ư?
Đọc Sách Điện Tử Tôi biết ông Đẩu-Tiếp từ ngày còn chủ-trương tờ Văn-học tạp-chí: ông là người rất sốt sắng về sự sưu tầm các văn thơ của các cụ nước ta ngày xưa.
Nếu tập « Đời tài hoa » của ông nhờ tôi duyệt và xuất bản đây mà được các nhà trí thức trong nước biết đến thì cái công của ông không phải uổng vậy.
Hanoi, ngày 7 Février 1938 KHÁI-SINH DƯƠNG-TỤ-QUÁN *** I. LỊCH-SỬ CỤ Cụ húy Hàm-Ninh, tự Thuận-Chi, biệt-hiệu Tịnh-Trai, Anh-toàn-tử, nguyên người làng Phù-Kinh, sau thiên-cư qua Trung-Ái (Trung-Thuần), phủ Quảng-Trạch, tỉnh Quảng-Bình (Trung-Kỳ).
Người ta đồn rằng cụ là một bậc thần-đồng. Khi cụ chưa sinh, những lúc canh khuya đêm vắng, trên hòn lèn Bảng, người ta thường thấy một ngọn đèn leo-lét thắp dưới một gốc cây, xa nghe văng vẳng có tiếng người đọc sách. Khi cụ đã lọt lòng rồi, tiếng đọc sách ấy, cũng như ngọn đèn kia, không còn nghe thấy đâu nữa, họa chăng ở nhà cụ… Nhưng kịp lúc cụ đã trở về cõi suối làng mây, trên lèn Bảng tự-nhiên ngọn đèn khuya lại thấy, tiếng đọc sách lại nghe, nhưng ít lâu lại im-lặng. Đồng-thời, cụ Lê-chí-Tuân (Tấn-sĩ, người Lâm-Xuân) ra đời, nên có kẻ ức-đoán rằng: Người tiên trên lèn Bảng hai lần thác-sinh xuống cõi trần, sau là cụ Lê-chí-Tuân mà trước là cụ Nguyễn-hàm-Ninh đó vậy.
Lạ nhỉ? Không biết lấy gì để làm chứng cho cái thông-minh xuất-chúng của cụ, sao người ta phải bịa ra những chuyện dị-đoan ấy làm gì?
Theo chúng tôi, thì cụ chỉ là một đứa con yêu-quí của hai vợ-chồng nhà nông nọ, ở dưới chân núi Chóp-Chài, bên ngọn nước Khe Dang kia.
Không tiền, thủa nhỏ cụ thân-sinh định không cho đi học. Một hôm, có người bà con đem đến cho cái bánh, ngài đùa rằng trong nhà hễ ai lớn hơn cả thì được. Cụ hỏi: « Thế thầy tuổi gì? » - Tuổi Mùi.
- Thế mẹ tuổi gì?
- Tuổi Thân!
Cụ cười: « Thế thì cái bánh về phần con, con tuổi Thìn, Thìn đã, rồi mới đến Tị, Ngọ, Mùi, Thân, Mậu, Dậu, chứ? » Biết con là bậc thông-tuệ phi-thường, cụ thân mới cho cắp sách đến trường học phóng. Song cửa nhà đơn bần quá chừng, chưa được mấy tháng, cụ lại phải bỏ học trở về giúp đỡ việc nhà. Mãi đến năm 15 tuổi, nhờ có người cô ruột là bà Nguyễn-Húc, một tay cự phú trong làng, không con nên mới xin cụ đem về nuôi cho ăn học. Cụ mới được chuyên-nghiệp tàng-tu từ đó. « Một nét chữ, một câu thơ, chỉ suy học một đã dư biết mười », một câu thơ ấy, không biết đã đủ để diễn-tả tài học của cụ được chưa?
Các ngài đã từng nghiệm thấy chăng? Những người như cụ, thuở bé đều là những tay tinh nghịch cả đấy! Người ta thường thuật rằng: một hôm, trong một quán rượu ở chợ Ba-Đồn, một cô kỹ-nữ người Thổ-Ngọa, cô Bình, đương cùng thầy cử người Di-Luân, bên lời tâm-phúc, bên lời hàn-huyên. Thoạt thấy cụ ở đâu vào, thầy cử muốn làm cách tảng lờ để chữa thẹn, liền đón hỏi: « Thế nào? Mấy lâu anh có bài gì hay? Đọc nghe! »
Cụ Nguyễn: « Thưa không, song nếu tiên-sanh hạ-cố đến, muốn nghe văn tôi, thì xin đọc ngay một bài phú tức-cảnh để hầu Tiên-sinh ».
Thầy cử: « Được, tốt lắm, anh cứ đọc ».
Cụ Nguyễn:
« Thầy cử Di-luân, Cô Bình Thổ-ngọa;
Hai bên gặp-gỡ thờ-ơ, Một quán chuyện-trò thong-thả…
» Thầy cử gượng cười: « Hay, rất hay! » Cụ Nguyễn: « Trầu đầy đạy, nhai-nhai nhả-nhả, trỏ bà già « chi » lấy chìa vôi. Thuốc đầy bao, nút-nút châm-châm, quát thằng bé « chi » đem chút lả (lửa) ».
Thầy cử vuốt râu: « Hay, rất hay!
Cụ Nguyễn: « Khăn tay hồng đỏ-chói, vắt lên che đen kịt « chi » hàm râu; Quần lãnh bưởi láng-xầy, thả xuống phủ trắng bong « chi » cổ vả!… »
Thầy cử đỏ mặt: « Khăn tay sao lại đối quần lãnh, hàm râu sao lại đối cổ-vả? À ra thằng này xấc thật! » Sau câu nói ấy, sẽ xẩy ra sự gì, bạn đọc thử đoán, mà bài phú kia làm đến nửa chừng cụ đành phải bỏ dở!
Lại một lần, cụ lên chơi ở tỉnh lỵ cùng mấy người bạn, bên đường thấy một mỹ-nữ đi qua, cụ liền đọc luôn mấy câu: « Con nhà ai? Đi đâu đó? Gò má hồng-hồng; dây lưng đỏ-đỏ. Nhìn qua phong-dạng, ước mười bảy, mười tám mô chừng; Ngó lại hình-dung, e cô hai cô ba chi nỏ. Ước chỉ được như vầy… như vầy…; Mà rứa… mà rứa… « giả tai »! »
Lại một lần, có người quen biết trong làng đi cưới vợ ở Tượng-Sơn, cụ cũng được mời đi. Qua bến Kênh-Kịa, cụ đi sau, thoạt thấy cả đoàn đứng lại, rồi tin từ phía trước đem đến: « Câu đối, họ ra câu đối! » Cụ liền chạy lên trước đoàn, thấy các bực đàn anh đương đứng ngơ-ngẩn trước một mảnh giấy hồng, trải-trên một cái hương-án mà người ta đặt chắn ngang đường để đòi nộp cheo. Cụ vội-vàng cầm mảnh giấy lên xem: « Chân giậm tay mò bơn hói Kịa »
2. Biết câu đối ra lỡm, cụ cũng đối lỡm lại: « Má kề miệng ngậm bống khe Dang ».
3 Tài mẫn-tiệp, sức thông-minh của cụ như thế, thảo nào mới sau 6 năm nghiên-bút dùi-mài, mà đến năm 1829 (Kỷ-Sửu) vừa 22 tuổi, cụ đã giật được cái Tú-tài và qua năm 1831 (Tân-Mão) cụ đậu giải-nguyên! Năm ấy cụ vào Giám. Năm sau cụ đi Hậu-bổ Nghệ. Cách mấy tháng, cụ đổi ra Tri-huyện Lục-Ngạn (Bắc-Giang). Năm 1833, Quí-Tị, ông thân qui-tiên, cụ phải về đinh-gian
4. Quan huyện Đường-Hào là bạn đồng khoa, đồng liêu, lại tình đồng châu đồng quận, có tiễn cụ bài thơ:
客秋君我相擕往 今秋君向別吾歸 德水廿江天若遠 他郷故郡月分輝 陪顏昨夜知多苦 屈指來秋未可期 忠孝古來男子事 可堪初度遇相知 Khách thu quân ngã tương hòe vãng Kim thu quân hướng biệt ngô qui
Đức thủy Cam giang thiên nhược viễn Tha hương cố quận nguyệt phân huy Bồi nhan tạc dạ tri đa khổ Khuất chỉ lai thu vị khả kỳ
Trung hiếu cổ lai nam tử sự Khả kham sơ độ ngộ tương tri.
Dịch:
(Các bản dịch trong tập này, đều do ông Nguyễn-Văn-Đề phiên-dịch)
Cùng nhau thu trước cắp tay đi, 5 Sao vội thu nay dứt áo về?
Dường ngái sông Cam trời bến Đức, 6 Chung soi đất khách nguyệt làng quê.
Lời trao hôm diếp âu thêm bận, Tiệc hẹn năm sau đã dễ gì?
Trung-hiếu đạo trai đành phải thế, Buổi đầu may gặp bạn tương-tri.
Ở nhà cư-tang được ít lâu, vì sinh-kế cụ đã phải tìm vào Thanh-Toàn (Huế) hỏi nơi dạy học. Bấy giờ gặp khoa Giáp-Ngọ (1834), trong quán nước, cụ ngồi một mình trên bộ ngựa (ván), các thí sinh, những ai đã tầng biết cụ, đều khúm núm đứng chực hai bên. Một anh chàng lạ mặt, từ đâu đến, thấy thế liền cười: « Chào thầy tú! », vì có tú-tài mới đến kinh-đô để hòng giựt cái cử-nhân, chớ cử-nhân hay tấn-sĩ mấy ai qua đó, quanh quẩn ở ngoài trường thi làm gì? « Ngư mục hộn châu » là thế! Không lẽ cụ đành lặng thinh để cho người ta xem thường hay sao? Cụ liền đáp lại:
我爲尋師萬里來 嶺南先占百花魁 蓬萍客地誰青眼 幸得君今說秀才 Ngã vị « tầm sư » vạn lý lai Lãnh-nam tiên chiếm bách hoa khôi Bồng bềnh khách-địa thùy thanh nhạn
Hạnh đắc quân kim thuyết tú-tài Dịch:
Vì kẻ tìm thầy đến đấy chơi, 7 Non Nam tầng tỏ mặt hoa khôi.
Bơ-vơ đất khách ai tri-kỷ, May được nhà ông nói tú-tài!
Nghe xong mấy vần thơ ấy, biết là một bậc kỳ-tài, người kia liền theo xin lỗi, sụp xuống lạy và ngỏ ý muốn, tôn cụ làm thầy, rước về nhà ngồi dạy!…
Đóng vai ông đồ mãi đến năm 1836 (Bính-Thân) cụ mới được đức Minh-Mạng vời ra làm quốc-học độc-thư. Năm 1838 (Mậu-Tuất) đổi qua Tôn-nhơn-phủ Chủ-sự. Chính trong lúc lên giữ chức ấy, cụ được thấy trên điện Thái-Hòa sáng rực hai câu đối sơn son thiếp vàng:
子能承父業 臣可報君恩 Tử năng thừa phụ-nghiệp Thần khả báo quân-ân Dịch:
Con thừa được nghiệp cha, tôi trả tròn ơn chúa.
Cụ liền lấy bút phê vào bên cạnh: « Tối hảo! Tối hảo! Cương thường điên-đảo. Thần Nguyễn-hàm-Ninh phụng khả
Mục lục
- MẤY LỜI GIỚI-THIỆU
- I. LỊCH-SỬ CỤ
- II. TÁC-PHẨM CỦA CỤ
- III. CHUYỆN CỤ VỚI ÔNG CAO-BÁ-QUÁT
- IV. ÔNG TÙNG-THIỆN-VƯƠNG VỚI CỤ
- V. CỤ VỚI CÁC BÀ CHÚA THƯỜNG-SƠN, LẠI-ĐỨC
- VI. TỰ TÍCH CỦA CỤ
- VII. PHẢN THÚC-ƯỚC











