
Là Người Nhật: Lịch Sử, Thi Ca Và Kịch Bản Học Quá Trình Hình Thành Chế Độ Toàn Trị
- Nhà xuất bản
- Tri Thức
- Năm
- 2020
- Ngôn ngữ
- Tiếng Việt
- Định dạng
- EPUB 3.0 · 938 KB
- Số chương
- 50
Giới thiệu
Tác phẩm Là người Nhật - Lịch sử, Thi ca và Kịch bản học quá trình hình thành chế độ toàn trị của A. N. Mesheriakov, một nhà Nhật Bản học nổi tiếng, là phần tiếp theo của cuốn
Hoàng đế Minh Trị và nước Nhật Bản của Ngài - một bestseller của ông. Tác phẩm mới này nói về giai đoạn đầy bi kịch trong lịch sử Nhật Bản nửa đầu thế kỉ XX, giai đoạn đất nước này đang rơi nhanh vào vực thẳm của chế độ toàn trị. Những cuộc chiến tranh do Nhật Bản tiến hành trong giai đoạn đó đã gây ra biết bao đau khổ cho chính nhân dân Nhật Bản cũng như nhân dân các nước khác.
Đọc Sách Điện Tử Lần đầu tiên, tác giả cho ta thấy cơ chế quản lí và đặc biệt là cơ chế văn hóa đã tạo điều kiện cho nhà cầm quyền huy động quần chúng một cách thành công chưa từng có. Ông cố gắng tìm hiểu người Nhật giai đoạn đó, con đường mà đất nước lựa chọn hấp dẫn họ ở điểm nào. Ông tập trung vào những vấn đề hết sức lí thú như quan niệm của người Nhật đối với thể xác và tinh thần, đối với tuổi già và tuổi trẻ, đối với mình và với người.
Đây là tác phẩm không thể thay thế cho tất cả những người muốn đi sâu tìm hiểu lịch sử và văn hóa Nhật Bản.
Người dịch *** Cũng như những thế kỉ trước, thế kỉ XX là thế kỉ của những điều không tưởng, vấn đề là, những điều không tưởng của thế kỉ XX khác hẳn với những điều không tưởng của quá khứ. Khác không chỉ ở tính chất của những ước mơ mà còn ở quy mô của những mưu toan nhằm hiện thực hóa chúng nữa. Sự phát triển của khoa học, kĩ thuật, giao thông và thông tin liên lạc đã dẫn đến việc hiện đại hóa công nghệ quản lí, cho phép huy động vào công cuộc xây dựng tương lai tươi sáng một lượng người lớn chưa từng có, nó tạo điều kiện cho nhà nước thâm nhập vào mọi ngóc ngách của đời sống, khiến số lượng nạn nhân cũng ở mức độ chưa từng có. Đô thị hóa làm cho cơ chế kìm hãm và nền đạo đức cũ sụp đổ, những giá trị và định hướng cũ mất dần ý nghĩa. Dân chúng rất dễ bị lừa mị, nhân dân biến thành đám đông ngay trong chớp mắt.
Mưu toan xây dựng các chế độ không tưởng được thực hiện cả ở Liên Xô, cả ở nước Đức quốc xã lẫn nước Nhật. Liên Xô xây dựng chủ nghĩa cộng sản quốc tế, nước Đức quốc xã xây dựng “trật tự mới ở châu Âu”, còn nước Nhật phong kiến thì xây dựng khu vực thịnh vượng chung của các dân tộc Á Đông. “Tương lai tươi sáng”, “Sứ mệnh vĩ đại”, “Hòa bình vĩnh cửu”, “Hạnh phúc cho tất cả mọi người” đã nghiễm nhiên bước vào từ điển của các chế độ không tưởng đó. Phương tiện để thực hiện những mục tiêu này chính là bạo lực. Bạo lực đối với chính nhân dân nước mình và với các dân tộc khác. Bạo lực đối với thông tin, đối với văn hóa, đối với thể xác và bạo lực quân sự. Cho nên, để thực hiện các tư tưởng không tưởng, ở cả ba nước nói trên người ta đều thiết lập một hệ thống cai trị. Hệ thống này phải được gọi là chủ nghĩa toàn trị.
Thuật ngữ này rộng hơn khái niệm “chủ nghĩa xã hội”, “chủ nghĩa xã hội quốc gia” hay “chế độ quân chủ”. Nó gom vào cùng một nhóm những chế độ và cơ cấu nhà nước đặc thù: đối với các chế độ này, đời sống của con người chẳng có một chút giá trị gì. Vì vậy, nhà nước tự giành lấy cho mình quyền - cả về mặt đạo đức lẫn pháp lí - thâm nhập vào mọi lĩnh vực có thể tưởng tượng được, nó tước đoạt ngay cả quyền sống độc lập của con người. Nó tạo ra một kiểu người không đủ sức suy nghĩ một cách độc lập về những lợi ích cá nhân và “ích kỉ” của chính mình.
Động viên, kế hoạch, chủ nghĩa tập thể, thống nhất, đấu tranh là những đặc trưng gắn liền với đời sống và hệ tư tưởng của những nhà nước đó. Lợi ích của những con người cụ thể bị lờ đi và bị coi là chủ nghĩa cá nhân thối tha. Đơn vị xã hội là giai cấp, đất nước và dân tộc. Con người chỉ được coi là có “đầy đủ giá trị” khi đã hòa nhập vào quần chúng. Những đám quần chúng này có niềm tự hào riêng của mình, họ coi mình là những người làm nên lịch sử, và rất dễ rơi vào tình trạng bị kích động, thậm chí còn lấy làm hài lòng vì bị kích động nữa.
Người ta thường nghĩ rằng dân chúng luôn luôn là nạn nhân của những chính trị gia khôn khéo và bất lương, những kẻ lúc nào cũng chỉ theo đuổi quyền lợi ích kỉ. Tôi cho rằng hiểu như thế là không đúng. Phần lớn các chính trị gia và sử gia vẫn còn là tù nhân của những ảo tưởng “mị dân”: nhân dân bao giờ cũng đúng. Còn nếu nhận thấy ở nhân dân có điều gì đấy tiêu cực thì bao giờ họ cũng bảo rằng nhân dân đã bị lừa bịp. Nghĩa là trước những sự kiện đang diễn ra, “người dân bình thường” không phải chịu bất kì trách nhiệm đạo đức nào, nhân dân bị coi là những đứa trẻ vị thành niên và không thể bị đưa ra xét xử. Kể cả xét xử trước tòa án của lịch sử. Cách hiểu như thế, theo tôi, là vô trách nhiệm và đầy khiếm khuyết. Nhà nước toàn trị là kết quả hoạt động của rất nhiều người, mỗi người trong số họ phải chịu phần trách nhiệm của mình.Phần trách nhiệm của mỗi người dĩ nhiên là khác nhau, nhưng những mưu toan “biện hộ” cho nhân dân nhất định sẽ đưa đến sự băng hoại cả về mặt đạo đức lẫn thể xác của họ.
Cả Nhật, Đức và Liên Xô đều tiếp cận với quá trình công nghiệp hóa tương đối muộn. Nhưng quá trình công nghiệp hóa lại diễn ra với tốc độ nhanh chưa từng có, tay chân hoạt động nhanh hơn đầu óc, tình cảm không theo kịp máy móc. Trong khi tự hào với sức mạnh quân sự và công nghiệp của đất nước mình thì người dân lại khao khát tinh thần gia trưởng xưa cũ. Sự phát triển của nền văn minh đô thị dẫn đến sự đa dạng, mà đôi khi lại bị coi là hỗn loạn. Sự phân chia trong nội bộ làng xã thành “mình” và “họ” đã được mở rộng sang các giai cấp và dân tộc, và đạt đến biên giới quốc gia chứ không còn giới hạn trong làng xã nữa. Bị đẩy từ nông thôn lên phố thị, con người bị cắt rời khỏi cội rễ và những cơ chế kìm hãm của xã hội truyền thống. Họ trở thành những chủ thể độc lập của quá trình sáng tạo của lịch sử. Trong khi đó, họ lại là những người nhu nhược và là đối tượng tuyệt vời cho việc ru ngủ và những thủ đoạn lừa gạt khác. Chính họ cũng muốn “thống nhất” tình cảm và cảm xúc của mình vì không thể chịu đựng nổi những thử thách của sự cô đơn và chủ nghĩa cá nhân. Họ thường xuyên bị những căng thẳng, những cơn rối loạn thần kinh và thái độ hung hãn giày vò; họ sẵn sàng tìm và dễ dàng tìm được kẻ thù. Ở cả trong cũng như ngoài biên giới quốc gia.
Xã hội trở thành một đội quân cực kì đông đảo, tất cả các chiến binh đều sẵn sàng thi hành mệnh lệnh ngay lập tức. Đàn ông lí tưởng không phải là người có thể tự đưa ra quyết định mà là người chiến sĩ sẵn sàng thực hiện mọi mệnh lệnh một cách vô điều kiện. Thực tế là không có ngoại lệ, mọi người đều được xếp vào đội ngũ, không ai được quyền hành động một cách độc lập. Phụ nữ và trẻ con cũng được yêu cầu trở thành những người giống như mẫu đàn ông nói trên. Và họ cũng vui vẻ đi theo con đường đó. Tất cả đều muốn đoàn kết với những người còn lại. Tất cả đều sợ cảnh cô đơn.
Cả Nhật, Đức và Liên Xô đều tuyên bố rằng mục tiêu cuối cùng của họ là hòa bình. Nhưng không nước nào trong ba nước nói trên có thể tồn tại và muốn tồn tại trong điều kiện hòa bình. Chiến tranh - giữa các quốc gia, giữa các sắc tộc, giữa các chủng tộc và giai cấp - là điều kiện tồn tại chủ yếu của họ. Nhà nước toàn trị chỉ có thể tồn tại trong không gian ngày càng được mở rộng, khi các cơ quan như quân đội và công an có nhiều quyền lực hơn các cơ quan dân sự, khi lĩnh vực đối nội phải phục tùng các mục tiêu đối ngoại. Tính chất không tưởng của những mục tiêu nói trên nhất định sẽ xung đột với bản chất của con người, bạo lực sẽ ngày càng gia tăng và sự chống đối cũng tăng theo. Chính vì vậy mà thời gian tồn tại của chủ nghĩa toàn trị mới ngắn như thế, cơ chế tự hủy đã được cấy sẵn vào trong lòng nó ngay từ đầu.
Trong nhiều nước “tiên tiến” thế kỉ XX, nghệ thuật quản lí con người mới được phát minh (giáo dục bắt buộc và giống nhau, chế độ quân dịch chung cho tất cả mọi người, sự phát triển của các phương tiện thông tin đại chúng), cũng như sự phát triển chưa từng có của khoa học và kĩ thuật đã dẫn đến niềm tin ngây ngô và nguy hiểm vào khả năng vô hạn của nhà nước cũng như khả năng huy động của nó. Các nhà nước thế kỉ XIX không thể cấp súng cho hàng triệu
Mục lục
- LỜI GIỚI THIỆU
- LỜI NÓI ĐẦU
- HỒI I BẤT ĐỒNG Ý KIẾN GIA TĂNG
- MÀN 1 HOÀNG ĐẾ ĐẠI CHÍNH: SÂN KHẤU CỦA MỘT CÁI BÓNG MỜ
- MÀN 2 NHỮNG CƠ QUAN CÓ TOÀN QUYỀN QUYẾT ĐỊNH: CẢNH LĂNG XĂNG XUNG QUANH NGAI VÀNG
- MÀN 3 NHẬT BẢN THAM GIA CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ NHẤT: NHIỀU VÀNG NHƯNG ÍT GẠO
- MÀN 4 TRẬN ĐỘNG ĐẤT KINH HOÀNG NĂM 1923: THIÊN NHIÊN VÀ CON NGƯỜI
- MÀN 5 ĐA DẠNG THÁCH THỨC: CHA VÀ CON
- MÀN 6 ĐA DẠNG THÁCH THỨC: THÀNH THỊ VÀ NÔNG THÔN
- MÀN 7 QUÂN ĐỘI: SỤC SÔI TINH THẦN CÁCH MẠNG
- MÀN 8 CHÍNH PHỦ MANG TÍNH ĐẢNG PHÁI: TÌM KIẾM HÀI HÒA XÃ HỘI
- MÀN 9 QUYỀN PHỔ THÔNG ĐẦU PHIẾU: TRIỆU CHỨNG CỦA CHẾ ĐỘ TOÀN TRỊ
- MÀN 10 HOÀNG ĐẾ CHIÊU HÒA: KHÔI PHỤC HÌNH ẢNH
- MÀN 11 NHẬT BẢN VÀ PHƯƠNG TÂY: PHỨC CẢM BẤT TOÀN VÀ BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC
- MÀN 12 QUÂN ĐỘI: ĐỜI NHẸ TỰA LÔNG HỒNG
- MÀN 13 ĐẠI SUY THOÁI: CON ĐƯỜNG DẪN ĐẾN CHIẾN TRANH
- HỒI II KHẮC PHỤC BẤT ĐỒNG
- MÀN 1 ĐỤNG ĐỘ Ở MÃN CHÂU: SÁNG KIẾN KHÔNG BỊ TRỪNG PHẠT
- MÀN 2 BA NGƯỜI ANH HÙNG: SÁNG TẠO RA CHIẾN CÔNG
- MÀN 3 THÀNH LẬP MÃN CHÂU QUỐC: SỰ CÔ ĐỘC ĐẦY KIÊU HÃNH
- MÀN 4 MÃN CHÂU QUỐC: SỰ HÀI HÒA CỦA NĂM DÂN TỘC
- MÀN 5 NGƯỜI NHẬT VÀ MÃN CHÂU QUỐC:
- MÀN 6 CUỘC BẠO LOẠN MANG TÍNH TRÌNH DIỄN I: TỘI ÁC KHÔNG BỊ TRỪNG PHẠT
- MÀN 7 BẠO LOẠN MANG TÍNH TRÌNH DIỄN II: GIẾT VÀ BỊ GIẾT
- HỒI III TIÊU DIỆT BẤT ĐỒNG
- MÀN 1 “BẢN SẮC DÂN TỘC”: TĂNG CƯỜNG CHẤT TOÀN TRỊ
- MÀN 2 CUỘC CHIẾN TRANH LỚN Ở TRUNG QUỐC:
- MÀN 3 THỂ DỤC THỂ THAO: TINH THẦN THẮNG THỂ XÁC