
Lê Văn Khôi
- Nhà xuất bản
- Tổng Hợp TP HCM
- Năm
- 2020
- Ngôn ngữ
- Tiếng Việt
- Định dạng
- EPUB 2.0 · 495 KB
- Số chương
- 17
Giới thiệu
Về nội dung tác phẩm, nếu các bạn yêu thích lịch sử, có thể đọc để biết được một giai đoạn lịch sử tuy ngắn ngủi (trong vòng 2 năm) nhưng nhiều biến cố với việc Sài Gòn bị chiếm đóng và biến thành sào huyệt của quân khởi nghĩa, chống trả quyết liệt với triều đình. Tuy cuộc khởi nghĩa cuối cùng thất bại vì sự non kém của người lãnh đạo, vì lực lượng chuẩn bị không đủ cho việc chiếm trọn cả miền Nam, nhưng nó cũng ghi một dấu ấn trong lịch sử nước nhà. Ta có thể biết được thông tin thú vị như Sài Gòn có "mả ngụy"chôn tập thể đến gần 2000 người (mà báo chí cũng từng nói tới), Marchand có lẽ là người nước ngoài duy nhất bị xử án lăng trì ở nước ta...
Có một vài chi tiết không rõ ràng hoặc nhầm lẫn (của tác giả). Rõ ràng nhất là Tống Phúc Lương, người chỉ huy quân triều đình từ Bà Rịa, vào đến Phiên An đã thay đổi thành Nguyễn Văn Trọng (người chỉ huy một đạo quân dưới quyền Tống). Sau chỉ nói Tống bị cách chức mà không nói đến mất chức như thế nào.
Theo các sách sử thì Tống là tướng chỉ huy từ đầu cho đến trận thua dưới chân thành Phiên An (lúc Lê Văn Khôi đã chết) làm Nguyễn Văn Trọng tử trận, mới bị cách chức, chứ không phải Trọng đã thay Tống từ khi đến Phiên An. Có lẽ vì muốn sử dụng xuyên suốt nhân vật Tần, đã đi hành thích hụt Tống, sau lại trá hàng Trọng, chứ nếu không thì sao lừa được cùng một người. Điều nữa là với thể loại truyện dài kỳ thì trước sau cũng có thể có sơ sót.
Còn vài sơ sót lặt vặt khác tôi thấy không quan trọng nên để nguyên, không sửa nguyên bản.
Nói chung tác phẩm này có thể dựng thành phim được.
Đọc Sách Điện Tử *** Đào Trinh Nhất (1900-1951), tự Quán Chi, là nhà nhà văn, nhà báo Việt Nam giữa thế kỷ 20. Khi viết văn, viết báo, ông ký nhiều bút hiệu:
Nam Chúc, Viên Nạp, Hậu Đình, Tinh Vệ, Bất Nghị, Vô Nhị, Hồng Phong, Anh Đào, XYZ.... Ông được người trong giới cầm bút đánh giá là người có cách làm việc nghiêm túc, thận trọng và là người đã biết dùng ngòi bút nghệ thuật làm sống lại nhiều tư liệu đã mai một trong lịch sử cận đại Việt Nam
Đào Trinh Nhất sinh năm Canh Tý (1900) tại Huế. Nguyên quán tại xã Thượng Phán, huyện Quỳnh Côi, tỉnh Thái Bình.
Ông là con trưởng Đình nguyên nhị giáp Tiến sĩ (tức Hoàng giáp) Đào Nguyên Phổ. Vợ là Lương Thị Hòa, con gái Lương Ngọc Quyến và là cháu nội Lương Văn Can.
Thuở nhỏ, Đào Trinh Nhất theo học chữ Hán ở quê nhà, sau lên Hà Nội học chữ Pháp và chữ quốc ngữ.
Sách *** Tác phẩm:
Vốn là nhà báo viết văn, cho nên hầu hết các tác phẩm của Đào Trinh Nhất đều đăng từng kỳ trên báo rồi sau mới in thành sách. Theo thống kê chưa đầy đủ, sau 30 năm cầm bút (1921-1951), ông đã để lại khá nhiều tác phẩm như sau:
Thế lực khách trú và vấn đề di dân vào Nam Kỳ.(Thụy Ký - Hà Nội, 1924)
Đông Châu liệt quốc (dịch, Sài Gòn, 1928)
Thần tiên kinh (Dịch của A lan Kardec, 1930)
Cái án Cao Đài (Sài Gòn, 1929)
Việt sử giai thoại (Hà Nội, 1934)
Nước Nhựt Bổn ba mươi năm duy tân (Đắc Lập, Huế, 1936)
Phan Đình Phùng, một vị anh hùng có quan hệ đến lịch sử hiện thời (Cao Xuân Hữu, Hải Phòng, 1936; Đại La, Hà Nội, tái bản 1945; Tân Việt, Sài Gòn, tái bản 1957)
Việt Nam Tây thuộc sử (Đỗ Phương Huế, Chợ Lớn, 1937)
Ðông Kinh nghĩa thục (Mai Lĩnh, Hà Nội, 1938)
Ngục trung thư (Đời cách mạng Phan Bội Châu)
(Mai Lĩnh, Hà Nội, 1938; Tân Việt, Sài Gòn tái bản, 1950)
Vương An Thạch (Hà Nội, 1943; Tân Việt, Sài Gòn tái bản 1960)
Cô Tư Hồng (tiểu thuyết, Trung Bắc Tân Văn Chủ nhật, 1940; Trung Bắc Thư xã, Hà Nội, 1941)
Chu Tần tinh hoa (dịch, Hà Nội, 1944)
Lê Văn Khôi (1941-1945)
Con trời ngã xuống đất đen (Hà Nội, 1944)
Chu Tần tinh hoa (1944)
Vương Dương Minh-Người xướng ra học thuyết lương tri và tri hành hợp nhất (Hà Nội, 1944; Tân Việt, Sài Gòn tái bản 1950)
Kẻ bán trời Con quỷ phong lưu Bùi Thị Xuân Lương Ngọc Quyến và cuộc khởi nghĩa Thái Nguyên 1917 (Quốc Dân thư xã, Hà Nội, 1946; Tân Việt, Sài Gòn tái bản 1957).
Liêu trai chí dị của Bồ Tùng Linh, ông mới dịch được nửa bộ, đang đăng báo thì từ trần (Bốn Phương xuất bản, Sài Gòn, 1950)
*** Chạng vạng chiều hôm 18 tháng 5 năm Quý Tỵ (1833).
Thầy đội trưởng Nguyễn Kiều từ trong thành Phiên An tế ngựa như bay như biến, một mạch về đến nhà ở Bình Hòa xã. Buộc ngựa ngoài cổng, thầy rảo bước vào trong nhà, kêu réo vợ và cô em gái đang hì hục giã gạo ở sau bếp để mai gánh đi Chợ Lớn bán:
- Bay đâu? Dọn cơm ta ăn ba hột mau mau, còn phải đi có việc thượng khẩn, nghe!
Thím đội và cô Tần cùng đưa mắt nhìn nhau, trao đổi ý tứ kinh ngạc. Mười mấy năm nay, thầy đội về nhà khinh thường giục giã bữa cơm tối là lần thứ nhất. Vì thầy vẫn quen tính phong lưu, bệ vệ, bao giờ bữa cơm tối của thầy cũng có ý nghĩa hầu như một vấn đề thể thống, một nghi tiết quan hệ. Dù gặp việc quan khẩn cấp đến đâu, ngay lúc Thượng Công hãy còn cũng vậy, thầy chỉ cắt người thay, không thì bỏ mặc kệ: cứ về nhà ngồi đánh chén một mình khề khà, ngất ngưởng, hạch sách người nhà từng li từng tí, kéo dài từ giờ Thân đến giờ Dậu mới xong. Suốt ngày, chỉ đến bữa chén ấy, thầy đội mới cảm giác vui sống, cho nên người vợ và cô em gái vẫn phải hết sức cung phụng, chiều chuộng, quanh năm như một ngày, thành ra cổ lệ. Hôm nay, thầy bỏ thói quen, có vẻ vội vàng, hộc tốc, ý chừng vì một duyên cớ gì hệ trọng lắm.
Sách Tuy vậy, hai người cùng phải bỏ dở công việc, để thắp đèn và dọn cơm bưng lên, không ai dám mở lời vặn hỏi gì cả.
Thầy đội Kiều để nguyên cả nón áo võ phục và đeo thanh kiếm bên mình, chỉ ngồi ghé bên bộ ván, lẳng lặng và sấp và ngửa lấy hai bát cơm, đứng dậy bưng tô trà Huế uống một hơi, rồi tất tả đi ngay.
Thím đội lườm theo và nói lầm rầm:
- Có giặc ở đâu mà chạy rối lên thế, không biết!
Câu nói hình như chột dạ thầy đội, cho nên thầy đã chạy ra đến giữa sân, bỗng ngảnh mặt lại, hỏi vợ:
- Ngày mai có đi chợ không?
- Có chứ! Thím đội trả lời, tôi với cô Tần đang giã năm sáu thúng gạo dưới bếp kia kìa! Cốt để mai gánh đi Chợ Lớn bán. Hôm nọ nhà ông bang Mạch Tấn Giai dặn lấy hai giạ, nhân thể đem giao cho người ta.
- Thế, lúc nào thì đi?
Cô Tần vừa nói vừa cười:
- Kỳ quá, hôm nay anh đội làm như khách lạ nhà này, hay là người đãng trí… Bao giờ chị em chúng tôi đi chợ, cũng phải dậy đi từ đầu trống canh năm, anh còn lạ gì?
- Nhưng ngày mai để sáng rõ hãy đi, có được không?
Thím đội xem chồng như có vẻ khả nghi, nên thím bất bình:
- Không thế được! Phải đi thật sớm, đến nơi bán hàng xong, còn mua sắm các thứ, để trở về nhà này vào khoảng nửa buổi thì vừa. Sáng rõ mới đi, gánh nặng đường xa, trời nắng vất vả lắm, rồi đến quá trưa mới về à?… Nhưng mà thôi, công việc chợ búa buôn bán để mặc kệ chị em chúng tôi, miễn sao mỗi buổi tối có một mâm cao lương mĩ vị cho ông gật gù đánh chén, hạch lạc người ta, thế là được rồi; cần gì phải can thiệp vào giờ khắc đi sớm đi trưa của chúng tôi?…
- Đã đành như thế!… Có điều, tôi phải dặn trước hai chị em: khuya nay đi ngang chỗ lăng mộ Thượng Công, có thấy sự gì khác lạ, cứ việc ngậm tăm mà đi, chớ tò mò dòm ngó hay là hoảng lên, thì khổ thân đấy, nghe!
Nói xong, thầy đội Kiều chạy tốc ra ngõ, nhảy lên mình ngựa, ra roi đi thẳng.
Trở lại công việc xay lúa giã gạo, chị dâu em chồng vừa làm vừa bàn tán thị phi. Cô Tần mở lời trước:
- Cử chỉ anh đội nhà ta hôm nay lạ thật, chị hai nhỉ! Làm như có chuyện gì bí mật thì phải.
- Hứ! Không khéo có mèo chó hẹn hò gì với anh chàng đêm nay đấy thôi.
- Chưa gì chị đã ghen bóng ghen gió! Cô Tần nói. Vậy mà em vẫn nghĩ chị không biết ghen.
- Cô này nói lạ, ai có chồng lại chẳng ghen. Để cho thiên hạ mót lúa đồng ruộng nhà mình, liệu mình đứng trơ mắt mà nhìn được à? Một mai cô có chồng, thử xem có ghen hay không cho biết?
- Nhưng chị vịn lấy chứng cớ nào mà nghi đêm nay anh đội nhà ta hẹn hò với mèo chó?
- Tôi bảo cô nhớ: không thế sao hắn ta lại tính đi suốt đêm nay không về? Đàn ông có nhà, ở nhà có vợ, bỏ đi suốt đêm là đi đâu mới được chứ nếu không phải có ngoại tình? Không thế, sao hắn ta lại dặn dò chị em mình đi ngang lăng mộ Thượng Công, đừng có dòm hành mà khốn?
- Thế ra chị đoán chừng anh đội nhà ta đêm nay sẽ đưa một cô n
Mục lục
- I Một bó đuốc bằng thịt người
- II Thượng Công là ai?
- III Nhưng vua Minh Mạng không ưa
- IV Một chú Mường về Trung châu
- V Lời thề viết bằng 28 giọt máu
- VI Bình Nam đại nguyên soái
- VII Một câu hát được vua khen thưởng
- VIII Huyết chiến trước thành Biên Hòa
- IX Thái Công Triều, con thò lò xấu mặt
- X Hai người con gái lạ đời
- XI Thành Phiên An bị vây hãm
- XII Ái tình ở trước súng đạn
- XIII Hàng xóm và anh vợ
- XIV Hai con hổ cùng chết
- XV Một chén thuốc độc chẳng giết được ai
- XVI Ngót 2000 người bị chôn sống
- XVII Tám chiếc đầu lâu biết đi








