
Mưu Trí Thời Liêu - Kim - Hạ
- Nhà xuất bản
- Văn Học
- Ngôn ngữ
- Tiếng Việt
- Định dạng
- EPUB 3.0 · 545 KB
- Số chương
- 54
Giới thiệu
Bàn đến lịch sử của dân tộc Trung Hoa, người ta thường nhắc đến Tần Hoàng, Hán Vũ, Trinh Quán, Thịnh Đường, Đại Minh, Vĩnh Lạc... mà không biết đến Cửu Châu Hoa Hạ là một hợp thể nhiều dân tộc.
Ba dân tộc Khiết Đan, Nữ Chân, Đảng Hạng ở nơi biên viễn, mọi mặt khác xa với Trung Nguyên nhưng vẫn là những dân tộc có bề dày lịch sử. Yếu có thể chuyển thành mạnh. Mưu lược của họ thật vô cùng vô tận.
Ngày nay đọc lại, thấy rõ đằng sau những trang sử ấy là cả một kho báu của trí tuệ, biết sử dụng, biết vận dụng, biết người biết ta... biến ảo khôn lường.
Nếu trên thương trường biết vận dụng thì kẻ giàu có được giàu mãi. Người nghèo chịu phận nghèo vĩnh hằng hay không chính là chỗ hơn thua của mưu trí vậy.
*** Từ thế kỷ thứ IV sau Công nguyên, đời Lưỡng Tấn, thời kỳ Nam, Bắc triều, phía bắc Trung Quốc suốt một dải Hoàng Thủy (sông Tây Lạp Mộc Luân) và Thổ Hà (sông Lão Ha) đã có các bộ tộc người Khiết Đan sinh sống bằng nghề săn bắt và đánh cá. Từ năm Khai Hoàng vào cuối thời Tùy Đường, dân tộc Khiết Đan ngày càng phồn thịnh, có điều họ vẫn sống trong chế độ xã hội nô lệ của liên minh các bộ lạc. Người cầm đầu liên minh các bộ lạc này được gọi là “Khả Hãn” và Khả Hãn cứ ba năm được chọn một lần trong số những người có chức có quyền của tám bộ lạc lớn.
Đọc Sách Điện Tử Gia Luật A Bảo Cơ đã vận dụng sách lược dần dần từng bước để từ một chức thủ lĩnh cận vệ quân leo lên làm “Di Ly Lý”, “Vu Việt” cuối cùng bước lên ngôi vị “Khả Hãn” cao quý. Để được chọn và leo lên ngôi “Khả Hãn”, một mặt Gia Luật A Bảo Cơ đã liên tục tiến hành các cuộc chinh phạt để mở rộng địa bàn, làm tăng dân số, cố gắng hết sức để thế lực Khiết Đan lớn mạnh hơn nữa. Mặt khác ông luôn tích cực học hỏi chế độ hoàng quyền của người Hán ở Trung Nguyên, phế bỏ các tập tục cũ, bình định nội loạn, xây dựng nên nhà nước Khiết Đan, mưu cầu chế độ quân chủ tập quyển, ngôi vị đế vương được truyền từ đời này sang đời khác.
*** Từng bước nắm lấy thực quyền. Nước đến thành Lương nên danh phận Ngày Canh Dần tháng Giêng năm 907, Vu Việt của Khiết Đan là Gia Luật A Bảo Cơ áo mũ chỉnh tề, dưới sự ủng hộ của các quan viên văn võ và những người có chức có quyền của các bộ lạc đã bước tới bên dưới một toà đàn tế được ghép bằng gỗ, được chọn vào hàng “Tái Sinh Thất” để cử hành “Tái Sinh Lễ”. Sau khi buổi lễ xong xuôi, họ lại hướng về phía đông để lạy mặt trời. Sau đó Gia Luật A Bảo Cơ nhảy lên mình một con ngựa cực tốt do một cụ già trong nhà mẹ ông dắt tới. Tùy tùng đứng cả phía sau, họ cùng tiến thẳng về phía một gò đất cao. Trên đường đi, Gia Luật A Bảo Cơ quất ngựa chạy như bay. Tới chân gò, ông vội nhảy xuống ngựa, quỳ rạp trên mặt đất. Lúc này, ông già dẫn ngựa và bọn tùy tùng cũng đã chạy tới. Họ lấy ra một tấm thảm phủ lên mình Gia Luật A Bảo Cơ. Một lúc sau, A Bảo Cơ đứng dậy bước lên gò. Lúc này trên gò đã có những nhân vật quan trọng của các bộ lạc cùng với bá quan văn võ đứng xếp hàng ngay ngắn ở đó. Họ cùng hướng lên tiến hành vái chào. Một viên tùy tùng của A Bảo Cơ trên gò cao vội chạy tới trước mặt bá quan lớn tiếng tuyên đọc tấu văn:
Sách – Tôi vô tài vô đức, sao các vị không chọn lấy một người khác?
Các quan cúi lạy, nói:
– Khả Hãn Gia Luật A Bảo Cơ công cao vọng trọng, bốn phương đều quy phục. Bọn chúng thần nguyện nghe theo lệnh của Khả Hãn.
Người ấy lại thay mặt Gia Luật A Bảo Cơ hỏi bá quan:
– Các ngài thực sự nguyện theo sự sai khiến của ta sao?
Bá quan đồng thanh hô:
– Duy mệnh thị chúng! (Chỉ nghe theo mệnh lệnh của ngài).
Viên tùy tùng lại chạy tới tham kiến với Gia Luật A Bảo Cơ nói lại lời của bá quan với ông. A Bảo Cơ nghe xong lại nhảy lên ngựa phóng về phía đàn tế, bá quan lại cúi mình chào. Sau đó họ đem lửa tới đốt đàn, lửa cháy rực trời: A Bảo Cơ dẫn bá quan làm lễ tế trời, cầu thượng thiên phù hộ lễ xong họ kéo nhau vào những chiếc lều da lớn bày đại tiệc tiếp đón tôn trưởng của các bộ lạc và bá quan văn võ.
Trên đây chính là một màn của bộ lạc Khiết Đan khi tiến hành nghi lễ “Sài Sách Lễ” trong buổi tuyển chọn Khả Hãn. Sau khi Gia Luật A Bảo Cơ tiến hành xong các nghi lễ, vương triều nhà Liêu chính thức được ra đời trong lịch sử Trung Quốc.
Sách Nghi thức của buổi “Sài Sách Lễ” rất đơn giản, tiến hành trong một khoảng thời gian rất ngắn, nhưng để có được buổi lễ ngày hôm nay, bước lên ngôi vị Khả Hãn, xây dựng lên nhà nước “Đại Liêu”, Gia Luật A Bảo Cơ đã phải trải qua một con đường dài đầy gian nan vất vả. Ông đã vận dụng sách lược lấn dần từng bước một, từ một vị thủ lĩnh thân quân để từng bước, từng bước leo lên ngôi vị cao quý của hoàng quyền.
Từ thế kỷ thứ IV sau Công nguyên, vào thời kỳ Lưỡng Tấn Nam Bắc triều, một dải vùng Hoàng Hà (Tây Lạp Mộc Luân Hà) và Thổ Hà (Lão Ha Hà) ở phía bắc Trung Quốc đã có những tộc người Khiết Đan sinh sống. Một câu chuyện được lưu truyền rất lâu trong lịch sử nói rằng: Có một người cưỡi thuyền độc mộc xuôi theo dòng nước tới đây và một nữ nhân cưỡi trâu xanh theo dòng Hoàng Hà tới. Họ cùng tới Mộc Diệp Sơn, gặp nhau rồi kết thành vợ chồng, sinh ra được 8 người con trai. Sau đó họ tiếp tục duy trì nòi giống, càng ngày càng phồn thịnh trở thành 8 bộ lạc người Khiết Đan. Hai vợ chồng nọ chính là thủy tổ của người Khiết Đan. Sau này, vào cuối đời Tùy Đường năm Khai Hoàng (năm 581), các bộ lạc người Khiết Đan ở vùng Khất Thần Thủy (Hoàng Hà) dần lớn mạnh nhưng họ vẫn ở trong chế độ xã hội nô lệ liên minh các bộ lạc. Tôn trưởng của khối liên minh này được gọi là “Khả Hãn”. “Khả Hãn” được chọn ra từ các vị thủ lĩnh của các bộ lạc và 3 năm lại tiến hành tuyển chọn một lần. Bên dưới Khả Hãn còn có “Vu Việt”, “Di Ly Đổng” là các chức quan chuyên giúp đỡ Khả Hãn. Lúc đầu Gia Luật A Bảo Cơ cũng chỉ là một viên thủ lĩnh thị vệ thân quân của Vu Việt, được gọi là “Đạt Mã Nhung Sa Lý”. Nhưng những người được chọn làm Khả Hãn nhất thiết phải là những người trong danh gia vọng tộc. Quyền hành của các bộ lạc đều nằm trong tay “Khả Hãn”, “Vu Việt”, “Di Ly Đổng” ba vị thủ lĩnh này. Cùng với sự phát triển của các cuộc chiến tranh, cướp đoạt ở bên ngoài, các cuộc cạnh tranh nhằm chiếm đoạt quyền hành trong nội bộ các bộ lạc cũng liên tục xảy ra.
Khi Gia Luật A Bảo Cơ đảm nhiệm chức vụ thủ lĩnh thị vệ thân quân, Vu Việt thời ấy là Thích Lỗ, Di Ly Đổng là Hại Để, Khả Hãn là Hằn Đức Đổng. Thích Lỗ và Hại Để có được quyền hành như vậy là nhờ vào việc chiếm đoạt quyền hành của người khác. Do thực quyền của họ ngày càng tăng nên họ cũng gặp phải sự phản kháng ngày càng kịch liệt của giới quý tộc các bộ lạc. Ba bộ tộc Bồ Cổ Chi mưu giết Thích Lỗ, Hại Để phải bỏ chạy ra khỏi tám bộ lạc người Khiết Đan. Trong trận hỗn loạn này, Gia Luật A Bảo Cơ với chức vụ của mình cùng với tinh binh trong tay đã trấn áp được một bộ phận những người giết hại Thích Lỗ, đánh bại tam tộc Bồ Cổ Chi và lập Hách Đế Lý làm Vu Việt. Bởi ông có công dẹp yên phản loạn, A Bảo Cơ cũng được phong làm Di Ly Đổng, trở thành người có quyền hành lớn thứ 3 trong khối liên minh các bộ lạc. Đó là việc của năm 901. Từ đó trở đi, năm nào A Bảo Cơ cũng dẫn quân đi đánh chiếm, cướp bóc ở các vùng bên ngoài lãnh thổ, bắt được rất nhiều nô lệ và súc vật. Thực tế lúc này quyền lực và kinh tế của ông đã hơn hẳn Khả Hãn Hằn Đức Cẩn và Vu Việt Hách Để Lý. Tới năm 906, ông đã dễ dàng leo lên chức Vu Việt “Tổng chi quân quốc sự” kiêm nhận luôn chức vụ Di Ly Đổng. Trên thực tế ông đã nắm hết quyền hành của liên minh các bộ lạc.
Tuy trên thực tế A Bảo Cơ đã nắm hết quân quyền của liên minh các bộ lạc trong tay nhưng rốt cuộc ông vẫn chưa phải là Khả Hãn. Hơn nữa ông vẫn lo rằng có quý tộc của một bộ lạc nào đó sẽ đứng lên phản đối mình. Để củng cố, giữ vững địa vị của mình, ông không vội vàng leo ngay lên chức vị “Khả Hãn” cao quý mà chú tâm vào việc tìm kiếm những thế lực giúp đỡ mình ở cả trong và ngoài bộ lạc để làm lớn mạnh hơn nữa thế lực của mình. Trong bộ lạc, ông đã tích cực lôi kéo Gia Luật Cát Lỗ vì nhân vật này không chỉ có thực quyền rất lớn mà ông ta còn có sức ảnh hưởng rất lớn trong thế lực của giới quý tộc. Hơn nữa ông luôn tìm cách để quyền lợi của giới quý tộc có được nhi
Mục lục
- I. HỌC THEO QUY CHẾ NHÀ HÁN, HỌ GIA LUẬT CHẤN HƯNG NƯỚC LIÊU
- 1. Từng bước nắm lấy thực quyền. Nước đến thành Lương nên danh phận
- 2. Đánh vào lòng người bằng sự ôn hòa, dẹp yên “cốt nhục chi biến”
- 3. Làm nhục để quan sát ý tứ, tôn trọng để cầu người tài
- 4. Trước hết phải nắm đầu cán
- 5. Thả càng xa, bắt càng dễ
- 6. Trong lo chính sự mới mong lập nên nghiệp bá
- 7. Dùng quyền người khác mưu cầu lợi cho mình
- 8. Quyết đoán để người khác phải phục
- 9. Mượn vỏ thay ruột
- II. DÒM NGÓ ĐẤT GIÀU, NGỰA XÉO TRUNG NGUYÊN
- 10. Nhân cơ hội cứu viện, tiến thẳng vào Trung Nguyên
- 11. Tạo nên việc rồi mới đàm phán
- 12. Ra tay sau khắc chế đối thủ, dẹp loạn Tiêu Tường
- 13. Người đẹp bày trò phá liên minh
- 14. Giấu thực trong hư, đại thắng Cao Lương Hà
- 15. Cả ham cùng muốn, tạo thành sức bên trong
- 16. Nhắm lúc đối phương sa sút, dốc sức mà đánh
- 17. Ổn định rồi sẽ nghĩ sau
- 18. Bày trận giả mai phục bắt sống được Dương Nghiệp
- 19. Biết thời mới dẹp nổi can qua
- 20. Chỉnh đốn kỷ cương pháp luật, không phân biệt sang hèn
- 21. Chép thơ dâm mê hoặc hoàng thượng
- 22. Bới lông tìm vết hãm hại thái tử
- III. GIƯƠNG MI TRỢN MẮT, PHÁ LIÊU LẬP ĐẠI KIM
- 23. Thưởng phạt phân minh, khích lệ tướng sĩ
- 24. Nương giờ sức gió, tăng thêm sức mạnh
- 25. Vách có tai, rừng có mạch
- 26. Phía đông không sáng, sáng phía tây
- IV. NHỜ SỨC GIÓ, CHIẾM CUNG KHUYẾT NHÀ HÁN






