
Ngụ Ngôn
Bộ Tuyển Tập Văn Chương Nhi Đồng
- Nhà xuất bản
- SÁNG TẠO 1969
- Ngôn ngữ
- Tiếng Việt
- Định dạng
- EPUB 2.0 · 959 KB
- Số chương
- 8
Giới thiệu
Chúng ta hãy tuần tự xét ba vấn đề sau đây về thể ngụ ngôn:
Đọc Sách Điện Tử - Nguồn gốc thể ngụ ngôn Đông Tây - Vấn đề chính danh - Tác dụng của thể ngụ ngôn Sách A) NGUỒN GỐC THỂ NGỤ NGÔN ĐÔNG TÂY
Nói về thơ ngụ ngôn ta thường nghĩ ngay đến Esope, La Fontaine của Tây phương và thâm tâm thường như có khuynh hướng chấp nhận ngay thuỷ-tổ thể thơ ngụ ngôn là Esope. Song le trước khi sang vấn đề chính danh, còn quan niệm ngụ-ngôn theo nghĩa thật rộng, thì bài ngụ ngôn cổ nhất còn truyền lại tới ngày nay lại là của Trung-Hoa. Vậy cho hợp lý chúng ta phải nói về ngụ ngôn Đông phương đã, sau đó hãy xét sang Tây-phương.
1) NGỤ NGÔN ĐÔNG PHƯƠNG Chúng ta tuần tự xét từ Trung-Hoa qua Ấn-Độ rồi nước Việt nhà:
a) Ngụ ngôn Trung-Hoa Theo Nguyễn t rọng Thuật trong một bài báo đăng trong Nam-Phong tạp chí của ông thì lối văn ngụ ngôn trong văn học sử thế giới có lẽ là có sớm nhất ở Trung Quốc, đó là bài thơ « Quạ Kia » của Ông Châu-công trước Tây lịch ước hơn một ngàn năm.
Nguyên vua Vũ-Vương là anh ông Châu-Công đánh bại vua Trụ lấy được thiên hạ của nhà Thương, rồi thương tình phong cho con vua Trụ là Vũ-Canh ở một xứ nhỏ và cho hai em là Quản Thúc và Sái-Thúc đến giám-đốc. Ít lâu sau Vũ-vương chết, con là Thành-vương còn nhỏ lên nối ngôi, Châu-Công làm Thủ-tướng. (Chính ông là người đã thay mặt Trung-quốc tiếp đãi lần đầu sứ thần nước ta). Thấy Vũ-Vương mất rồi, Quản-thúc với Sái-thúc bèn mượn tiếng Vũ-Canh dấy lên làm phản, phao ngôn đi rằng: « Châu-Công muốn lợi dụng thằng bé con ». Châu-Công phải đi đánh giết được Quản-Thúc và Vũ-Canh mà xem ý Thành-vương cũng còn chưa tin bụng mình mới làm ra bài thơ « Quạ Kia » đưa về cho Thành-vương để tỏ lòng ưu quân ái quốc của mình, mượn lời con chim mẹ bảo con quạ «
Mày đã bắt mất con tao, mày đứng phá nhà tao nữa ». Chim mẹ ví vào Ông, con quạ ví Vũ-Canh, chim con bị giết ví Quản Thúc, tổ chim ví quốc gia nhà Châu.
Bản dịch toàn bài « Quạ Kia » như sau (bản dịch cũng của Nguyễn trọng Thuật).
« Quạ kia đã bắt con ta, Thôi đừng phá hủy cửa nhà ta chi.
Biết bao bú mớm bù trì, Thương con ai cũng lòng kia khác nào.
Hôm nay trời chửa mưa dầm Bẻ cành dâu để ta khuân về nhà Khuân về chằng buộc nhà ta, Dưới kia ai dám lân-la nhòm hành.
Ta đi tha rác mọi nơi, Ta đi tìm kiếm lấy mồi chắt-chiu, Chân nam đá với chân chiêu, Miệng khô vì nỗi dùm kiu cửa nhà.
Ta kêu réo rắt gần xa, Đuôi ta cụp lại cánh ta xập xòe.
Vì chưng gió lật mưa đè, Cửa nhà lay chuyển chỉn e rã rời ».
Xuống đến đời Đông Châu, nghĩa là từ Xuân Thu đến Chiến-Quốc, hơn bốn trăm năm thời cục xoay dần ra cái thế liệt quốc cạnh tranh, học thuật tự-do, tư tưởng tự do, ngôn luận tự do, nhân đó triết học, văn học phát triển mạnh, các phái học giả đua nhau nào lập thuyết, nào du thuyết để răn khuyên người đời, do đó lối văn ngụ ngôn càng phồn thịnh dữ, mà Trang tử và Mạnh-tử là hai kiện tướng lừng danh về loại văn thể này.
Từ đời Tần trở về sau lối văn ngụ ngôn có sút kém.
b) Ngụ ngôn Ấn-Độ Trong kinh-sách Phật-giáo – vẫn theo lời Nguyễn trọng Thuật – thì những bài dụ (ngụ-ngôn) là để dễ bề cảm hóa đám chúng sinh bình dân, trình độ trí thức kém. Song những bài dụ đó thiên về tư tưởng xuất thế, khác hẳn với tư tưởng gần nhân sinh xã-hội của loại ngụ ngôn khác. Tỷ như câu chuyện dụ-ngôn về người đời:
« Có một người bị bốn con cuồng tượng đuổi chạy đến cái hố sâu vô để, miệng hố có cái dây leo thòng xuống. Người ấy bám dây lần xuống, đến nửa chừng, trông xuống thì thấy những giống độc ác, trông lên thì thấy có hai con chuột đến gặm cái dây ».
« Người ấy » chỉ về người đời, « bốn con cuồng tượng » ví bốn cái nghiệp nó khu bách người ta, « cái dây » ví với đời người;
« hai con chuột gặm » ví ngày tháng mòn mỏi, « dưới hố » ví nơi sa đọa. Nghĩ đến đời người như thế còn có thú gì mà không tu hành giải thoát.
1 Thật ra không phải chỉ về sau trong kinh sách nhà Phật mới có những dụ ngôn (như tập Jataka kể lại những chuyện tự hằng hà sa số kiếp tái sinh của Đức Phật), mà ngay sinh thời đức Thích-ca, Ngài cũng vẫn thường dẫn những chuyện về muông thú cỏ cây để các tín đồ dễ hiểu những lời thuyết giáo của Ngài.
Sách Nhưng có lẽ nguồn gốc ngụ ngôn cổ nhất của Ấn-độ phải kể tới tập cổ thư viết bằng chữ Phạn Panchatantra (Ngũ Thư). Những truyện ngụ ngôn trong tập cổ thư này thường rất dài, mắc míu đan dệt truyện nọ vào với truyện kia như kiểu những truyện trong « Ngàn Một Đêm Lẻ ». Còn nội dung cũng mang đậm màu sắc một lời khuyên hiền triết hơn là cái nhìn dí dỏm về nhân sinh.
Cũng những ngụ ngôn trong Panchatantra, bản dịch sang tiếng Ả-rập mang nhan đề là: « Ngụ ngôn của Pidpai ». Chính Pidpai được coi như ông tổ của thể ngụ ngôn Ấn-độ, nhưng tiểu sử của ông thì rất mờ mịt, chẳng biết ông sống vào thời nào và ở nơi nào tại Ấn-độ. Người ta chỉ biết ông là một nhà tu hành và đã từng phò tá vua Dabchélim (?).
c) Ngụ ngôn Việt-nam Vẫn cùng một bài báo đăng trên Nam-phong tạp chí kể trên, ông Nguyễn trọng Thuật đã có công nghiên cứu khá đầy đủ về thể ngụ ngôn của nước Việt nhà.
Văn ngụ ngôn Việt-Nam ta có đủ hai thể văn vần và văn xuôi và hai thứ chữ Hán ngữ và Việt ngữ. Thể văn này xem chừng như có từ đời Trần Mạt mà thịnh hành ở thời văn học thịnh đạt của nhà Hậu-Lê.
- Về Hán ngữ:
những chuyện bằng Hán ngữ đều là tản văn cả, như truyện « Con Long với con Hổ » tả hai con thi sức khoe tài rồi đối đáp với nhau, thúc kết thì bênh con Long là nhân, mà bỉ con H ổ là bạo (khuyết danh).
Truyện « Cóc Đi Thi » của Lê quý Đôn, tương truyền tác giả định bỉ một ông quan nào đó trong triều mà làm ra. Truyện hài hước đại ý nói cóc theo loài thủy tộc lên cửa Long-môn thi, Long-vương thấy lạ hỏi: « Cái quái vật gì mà bụng to da kệch thế này? » Rồi đạp cổ cóc xuống.
Ba truyện sau đây đều khuyết danh như truyện « Con Long Với Con Hổ » trên:
- « Truyện Con Gà Con Mèo và Con Chó » ý là cho văn cũng không kém gì vũ nên nói: Mèo kể công bắt chuột thì chó kể công giữ trộm, gà kể công dậy sớm đánh thức con nhà chủ để dùi mài kinh sử cho thành tài.
- « Truyện Súc-Vật Hội-Nghị » có ý trừng giới kẻ lười, lược rằng: Trâu hội cả gà, chó, mèo và lợn lại mà bảo:
« Anh gà kia thức thời thì cho chiêm nghiệm thời tiết; chú chó kia mạnh bạo thì cho giữ nhà; chú mèo nọ tài bắt chuột thì cho giữ thóc; còn tên lợn này ăn no ngủ kỹ thì chờ cho béo tốt rồi ăn thịt ». Lợn kháng nghị không chịu. Trâu rằng: « Biết sớm muộn, mi không bằng gà; giữ kho, không bằng mèo, coi trộm, không bằng chó, lại ăn hại như thế không mổ để làm gì? » Lợn hỏi lại: « Thế còn ông thì sao?
» Trâu nói: « Ta hết sức cầy ruộng để nuôi chúng bay!
» - Còn « Truyện Con Ve và Con Ruồi Tranh Luận » thì cực tả con ve là bậc thanh cao mà con ruồi là kẻ tham ô.
- Về Việt-ngữ:
Thoạt hãy nhìn vào một số bài ca dao có dáng dấp ngụ-ngôn:
1)
« Con gà cục tác « lá chanh », Con lợn ủn ỉn:
« mua hành cho tôi ».
Con chó khóc đứng khóc ngồi:
Bà ơi đi chợ mua tôi đồng riềng ».
Lá chanh chuyên để ăn với thịt gà luộc, hành chuyên để x ào nấu với thịt lợn và riềng để nấu với thịt chó. Thì ra đời chỉ toàn đòi lấy cái chết.
2)
« Con mèo mày trèo cây cau Hỏi thăm chú chuột đi đâu vắng nhà?
Chú chuột đi chợ đường xa Mua mắm mua muối giỗ cha chú mèo ».
Thì ra kẻ hèn thì cúc cung mong được phụng sự kẻ mạnh mà kẻ mạnh vẫn rình bắt chứ có tha đâu.
3)
« Con cò mà đi ăn đêm Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao.
Ông ơi, ông vớt tôi nao Tôi có lòng nào ông sẽ sáo măng.
Có sáo thì sáo nước trong Đừng sáo nước đục đau lòng cò con ».
Ý tả cái lòng không dám quên ai tế độ; nhưng giả sử vào trường hợp có bị ngờ mà phải chết, thì cũng xin cho chết một cách trong sạch để khỏi đau lòng.
Còn một bài nữa nói về vợ chồng chim chích nhưng ngụ tả tình trạng gia đình kẻ bình dân. Bài này dài, lược chuyện như sau:
Vợ chồng chim chích nở được bốn con, chồng dặn vợ ở nhà nuôi con, chồng đi kiếm mồi. Sau vợ thương chồng vất vả đòi đi kiếm thay, không ngờ lạ thung lạ thổ, suốt ngày không được gì, tới lúc
Mục lục
- LUẬN VỀ THỂ NGỤ NGÔN
- CHƯƠNG I : NGỤ NGÔN CỔ TRUNG-HOA VÀ VIỆT-NAM
- CHƯƠNG II : NGỤ NGÔN MỚI VIỆT-NAM
- CHƯƠNG III : NGỤ NGÔN ẤN ĐỘ
- CHƯƠNG IV : NGỤ NGÔN TRUNG ĐÔNG
- CHƯƠNG V : NGỤ NGÔN ESOPE (HY LẠP)
- CHƯƠNG VI : NGỤ NGÔN PHÁP
- PHỤ LỤC : NGỤ NGÔN LA FONTAINE







