
Những Thứ Họ Mang
- Nhà xuất bản
- Văn Học
- Ngôn ngữ
- Tiếng Việt
- Định dạng
- EPUB 2.0 · 316 KB
- Số chương
- 21
Giới thiệu
Nỗi buồn chiến tranh cho tới nay vẫn được đánh giá là một trong những tác phẩm văn chương hay nhất về cuộc chiến Việt Nam. Là Nỗi buồn chiến tranh phiên bản Mỹ, những Jimmy Cross, Chuột Kiley, Mitchell Sanders, Henry Dobbins hay Kiowa mang theo mình những vật dụng và vũ khí nặng nề cho các cuộc hành quân, và họ còn gánh vác cả những gì vô hình, có thể là tình yêu nhưng cũng có thể là niềm thù hận, nỗi sợ, và cả sự hèn nhát. “Cố cứu cuộc đời” sau này “bằng một câu chuyện kể”, Những thứ họ mang, trong niềm tuyệt vọng không sao thoát ra quá khứ của nó, xuất phát từ một thôi thúc nội tâm không thể kiểm soát và kết thúc bằng một niềm thanh thản tương đối, khi những câu chuyện ấy đã được kể ra, “những gì họ mang” đã nhẹ đi một phần.
*** Tập truyện ngắn gồm có:
Đọc Sách Điện Tử Những thứ họ mang Yêu Xoáy Trên dòng sông mưa Thù Bạn Làm thế nào kể một câu chuyện chân thực về chiến tranh
Nha sĩ Người tình sông Trà Bồng Tất chân Nhà thờ Kẻ mà tôi giết Phục kích Phong cách Nói về lòng can đảm Ghi chú Trên cánh đồng
Hình thức tốt Chuyến đi thực địa Lính ma Sống về đêm Cuộc sống của những người chết *** Review "Những thứ họ mang"Hôm trước ở lớp Tạp Dịch thầy đặt cho lớp mình một câu hỏi "Cụm từ nào trong tiếng Anh Mỹ có từ "Việt Nam". Mình thật sự ngỡ ngàng khi tìm ra đáp án, đó là cụm "MY VIETNAM"hoặc "MY PERSONAL VIETNAM. Khi người Mỹ nói "It is my (personal) Vietnam", nó không có nghĩa rằng "đây là Việt Nam của tôi", mà chính xác là "đây là sự khó khăn/ nỗi sợ/ cơn ác mộng của tôi". "My Vietnam"đã được người Mỹ dùng khi cần miêu tả hay than vãn về một sự khó khăn, một nỗi sợ hoặc một nỗi tang thương kinh khủng (bạn có thể tham khảo thêm về định nghĩa của từ này ở Urban Dictionary: "A difficult situation that one experienced that is "sort of"as traumatic and harrowing as fighting in a long and brutal war")
Vậy lý do là gì? Tại sao người Mỹ lại khiếp sợ Việt Nam, bị ám ảnh đến nỗi dùng từ "Việt Nam"để miêu tả tất cả những cảm xúc tiêu cực này?
Sẽ có một ai đó trong chúng ta trả lời rằng, vì Việt Nam chúng ta nhỏ bé nhưng đã kiên cường và đánh đuổi được cường quốc Mỹ, chúng ta đã dùng dao, gậy, gộc mà thắng với súng ống, xe tăng, thiết giáp khiến Mỹ bại trận thảm hại, tổn thất nặng nề và từ đó phải kiêng dè, nể sợ chúng ta. Đáp án này có thể đúng, nhưng "Những thứ họ mang"của Tim O'brien sẽ cho chúng ta thêm một đáp án khác, một đáp án mà mình nghĩ chưa thầy cô nào nói cho chúng ta nghe trong suốt 12 năm học lịch sử ở trường phổ thông, một đáp án mà chúng ta cũng nên nhìn nhận để mà khiêm cung hơn, để nhìn cuộc chiến từ cả hai phía với góc nhìn nhân văn hơn.
Cũng như những người lính Việt của Bảo Ninh trong "Nỗi buồn chiến tranh", những người lính Mỹ của Tim O'Brien cũng chẳng khác gì. Họ cũng là con người, họ cũng có gia đình, có bạn gái, có những kí ức tuổi thơ nơi sân bóng, có một thời trẻ trâu ở trường cấp hai, và có những ước mơ tương lai của tuổi mới lớn. Họ còn có chung sự thù ghét chiến tranh, họ biết khiếp sợ cái chết, họ day dứt vì quá khứ, và họ muốn phát điên vì những nỗi ám ảnh. Những thứ họ mang đến Việt Nam không chỉ có súng trường kích khí, súng phóng lựu, áo chống đạn, mũ sắt, thực phẩm, thuốc an thần, không chỉ là tượng Di Lặc, là tất vớ của bạn gái,... họ còn mang theo "nỗi sợ không gì cân nổi"(Tr.14), "họ cùng mang gánh nặng kí ức"(Tr.24) và tất nhiên "họ mang mạng sống của chính mình"(Tr.25). Bạn hãy cầm quyển sách lên, lật qua từng trang, và bạn sẽ thấy những thứ họ mang nặng nề và đau khổ đến nhường nào.
Mình tin rằng tác giả khi viết truyện này và mình khi viết review này, không có ý ngụy biện hay che đậy những tội ác mà người Mỹ đã gây ra khi đến Việt Nam. Mình không chối bỏ lịch sử. Mình chỉ mong muốn rằng khi đọc tác phẩm này, bên cạnh việc chỉ nghe về người Mỹ như những thủ phạm của những chết chóc tang thương với những trận thảm sát, những cuộc càn quét, những đợt thả độc dioxin; chỉ mong mỗi chúng ta hãy thử đặt thêm ba câu hỏi, những người lính Mỹ là ai, lý do gì họ tham gia chiến tranh Việt Nam và họ (và gia đình họ) được gì sau cuộc chiến?
*** Thiếu úy Jimmy Cross mang mấy lá thư của một cô gái tên Martha, sinh viên năm thứ ba trường Mount Sebastian ở New Jersey. Đó không phải thư tình, nhưng Thiếu úy Cross đang ôm hy vọng, cho nên thư này hắn giữ kỹ, gấp làm đôi gói trong bao ni lông lận đáy ba lô. Chiều muộn, sau một ngày hành quân, hắn đào công sự cá nhân cho mình, rửa tay bằng nước bi đông, mở cái gói ra, nhón đầu ngón tay cầm lấy mấy lá thư, và suốt tiếng đồng hồ cuối cùng khi trời còn sáng, hắn giả vờ. Hắn sẽ lại mường tượng ra những chuyến cắm trại lãng mạn đến vùng Núi Trắng ở New Hampshire. Đôi khi hắn lè lưỡi nếm nắp phong bì, biết rằng lưỡi của nàng đã từng ở đó. Hơn hết thảy, hắn muốn Martha yêu hắn như hắn yêu nàng, nhưng các bức thư này hầu hết toàn tán gẫu linh tinh, tránh né chuyện yêu đương. Nàng là gái trinh, hắn gần như tin chắc. Nàng học khoa Anh ngữ trường Mount Sebastian, nàng viết rất hay về các giáo sư, về các bạn cùng phòng và các kỳ thi giữa học kỳ của nàng, về lòng kính trọng Chaucer và niềm yêu thích lớn lao nàng dành cho Virginia Woolf. Nàng hay trích thơ; nàng chẳng bao giờ nhắc tới cuộc chiến tranh, chỉ nói, Jimmy, bảo trọng nhé. Các bức thư nặng 10 ao-xơ. Chúng đều ký Yêu, Martha, nhưng Thiếu úy Cross biết Yêu ở đây chỉ là một cách để ký cuối thư chứ không hàm cái nghĩa mà đôi khi hắn vờ là nó có. Khi mặt trời lặn, hắn sẽ cẩn thận cất thư vào lại ba lô. Chậm chạp, hơi lơ đãng, hắn sẽ đứng dậy đi tới đi lui giữa đám lính, kiểm tra vòng rào ngoài, rồi khi trời tối hẳn, hắn sẽ lại quay về công sự của mình ngắm trời đêm và tự hỏi có phải Martha là gái trinh không.
Những thứ họ mang hầu hết là cần thiết mới mang. Trong số những thứ không thể thiếu hoặc gần như không thể thiếu có dao mở đồ hộp P-38, dao bỏ túi, viên Trioxin châm lò, đồng hồ đeo tay, thẻ ghi tên, thuốc đuổi muỗi, kẹo cao su, kẹo, thuốc lá, viên muối, gói Kool-Aid, bật lửa, diêm, kim chỉ. Chứng nhận Thanh toán cho Quân nhân, khẩu phần C, và hai ba bi đông nước. Gộp hết lại, các thứ này nặng từ 15 đến 20 pao, tùy theo thói quen hay mức tiêu thụ của từng người. Henry Dobbins, vốn bự con, phải mang thêm khẩu phần; hắn đặc biệt khoái đào đóng hộp dầm xi rô đặc rưới lên bánh trứng. Dave Jensen, vốn coi trọng chuyện vệ sinh khi tác chiến hiện trường, thì mang bàn chải răng, chỉ xỉa răng, thêm vài bánh xà bông loại thường thấy trong khách sạn, mấy bánh này hắn thó được ở Trung tâm Nghỉ ngơi Giải trí dành cho quân nhân ở Sydney, Úc. Ted Lavender, vốn hay sợ, thì mang những viên an thần cho đến khi hắn bị bắn vào đầu ở ngoài làng Thần Khê hồi giữa tháng Tư. Do cần thiết, mà cũng do quy định bắt buộc, tất cả đều mang mũ cối bằng thép nặng 5 pao kể cả lớp lót và khăn trùm ngụy trang. Họ mang áo khoác và quần đi trận đúng chuẩn. Rất ít người mang đồ lót. Chân họ mang bốt đi rừng – nặng 2,1 pao – và Dave Jensen mang ba đôi tất cùng một lon bột bôi chân của bác sĩ Scholl để phòng chứng bợt da chân. Cho đến khi bị bắn, Ted Lavender mang sáu, bảy ao-xơ thuốc phiện hạng xịn, với hắn đây là thứ không thể thiếu. Mitchell Sanders, lính trực điện đài, mang bao cao su. Norman Bowker mang một cuốn nhật ký. Chuột Kiley mang mấy cuốn truyện tranh. Kiowa, là tín đồ Báp tít thuần thành, mang một cuốn Tân Ước có minh họa mà cha hắn tặng cho, ông là người dạy trường dòng ở Oklahoma City, bang Oklahoma. Tuy nhiên, phòng những lúc gian nguy, Kiowa cũng mang cả lòng nghi ngại của bà hắn đối với người da trắng, chiếc rìu săn cũ của ông hắn. Là do cần thiết cả. Bởi vùng này đầy rẫy mìn với bẫy với chông, theo quy định mỗi người phải mang một áo giáp bên trong là thép, ngoài phủ ni lông, nặng 6,7 pao, song hôm nào nóng thì có vẻ nặng hơn nhiều. Bởi ta có thể chết rất nhanh, nên mỗi người mang theo ít nhất một cuộn băng gạc to, thường là nhét ngay trong đai mũ cối cho dễ lấy. Bởi ban đêm trời lạnh và bởi các tháng mùa mưa thường nhiều mưa ướt át, nên mỗi người mang một tấm pôn
Mục lục
- Những thứ họ mang
- Yêu
- Xoáy
- Trên dòng sông mưa
- Thù
- Bạn
- Làm thế nào kể một câu chuyện chân thực về chiến tranh
- Nha sĩ
- Người tình sông Trà Bồng
- Tất chân
- Nhà thờ
- Kẻ mà tôi giết
- Phục kích
- Phong cách
- Nói về lòng can đảm
- Trên cánh đồng
- Hình thức tốt
- Chuyến đi thực địa
- Lính ma
- Sống về đêm
- Cuộc sống của những người chết