
Thuyết Công Lợi
- Nhà xuất bản
- Văn Hóa - Văn Nghệ
- Năm
- 2019
- Ngôn ngữ
- Tiếng Việt
- Định dạng
- EPUB 3.0 · 221 KB
- Số chương
- 6
Giới thiệu
John Stuart Mill là nhà triết học và kinh tế chính trị học người Anh.
Ngoài Thuyết công lợi - một tác phẩm kinh điển về lý thuyết đạo đức, John Mill còn viết Bàn về tự do (On Liberty, 1859) cổ vũ cho tự do cá nhân, nhất là về hai phương diện tư tưởng và ngôn luận.
Đi tìm một quy luật đạo đức hoàn vũ LTS: “Utilitarianism” – tác phẩm kinh điển về lý thuyết đạo đức của John Stuart Mill (1806 – 1873), một nhà triết học và một nhà kinh tế chính trị học người Anh - vừa được Domino Books và NXB Văn hóa - Văn nghệ TP.HCM phát hành đầu năm 2019 với bản dịch tiếng Việt “Thuyết Công Lợi” của Đặng Đức Hiệp. Người Đô Thị trân trọng chuyển đến độc giả bài giới thiệu tác phẩm này của nhà nghiên cứu Nguyễn Hữu Liêm (tiến sĩ luật khoa, tiến sĩ triết học, hiện đang là giáo sư chủ nhiệm khoa triết ở San Jose City College, Mỹ).
Utilitarianism, ở đây được dịch là “Thuyết Công Lợi”. Cụm từ “Công Lợi,” theo dịch giả Đặng Đức Hiệp, đã được sử dụng rộng rãi trong sách báo tiếng Việt ngay từ đầu thế kỷ XX. Ít nhất thì điều này cũng đã được ghi nhận như một hóa thạch ngôn ngữ trong các tập sách như “Xã hội luận” và “Lược sử các học thuyết kinh tế” (được xuất bản trong những năm 1925 - 1928) của Phan Đăng Lưu - một nhân vật cộng sản thế hệ đầu tiên - mới được tập hợp lại trong cuốn sách “Phan Đăng Lưu: Thân thế, sự nghiệp và sưu tập tác phẩm” và được NXB Tri Thức ấn hành trong năm 2017 gần đây.
Đây là một cách thức chuyển ngữ căn cứ vào ý nghĩa của học thuyết, trong khi từ Utility thì tiếng Việt thường được dịch là “Tiện ích”. Vậy, Utilitarianism có thể dịch là “Thuyết Tiện Ích”, hay như ở đây, “Thuyết Công Lợi” khi nội dung của học thuyết này chủ trương đánh giá đạo đức bằng lợi ích mà nó có thể tạo ra cho xã hội.
Thuyết Công Lợi được Mill viết theo thể Anh ngữ cổ điển ở đầu thế kỷ 19, với một phương cách hành văn rất khó đọc. Nhiều đoạn văn rất dài, chủ từ và các thuộc từ thường đan cài trộn lẫn vào nhau với nhiều những hàm nghĩa khác nhau. Ngay cả những giáo sư triết học ở Hoa Kỳ nhiều lúc cũng vấp phải sai lỗi khi phiên giải ý nghĩa của tác phẩm này sang tiếng Anh ngày nay.
Chuyển ngữ sang tiếng Việt lại càng khó khăn hơn. Nhưng ở đây, dịch giả đã hoàn tất bản dịch một cách chu đáo, bằng một văn phong dễ hiểu, nhưng vẫn chặt chẽ và giữ được thể trạng diễn đạt của nguyên tác.
Bối cảnh lịch sử của Thuyết Công Lợi Cuốn Thuyết Công Lợi của Mill (1863) là một trong hai tác phẩm cơ bản, từ nguồn gốc lịch sử đến nội dung học thuyết, của trường phái đạo đức học nầy.
Trước sách nầy là cuốn Giới thiệu những Nguyên tắc của Đạo đức và Lập pháp (Introduction to the Principles of Morals and Legislation. 1789) của Jeremy Bentham (1748 - 832), một triết luật gia và là một lãnh tụ của phong trào cải cách xã hội và pháp chế ở Anh vào cuối thế kỷ 18 - đầu thế kỷ 19. Cha của John Stuart Mill là James Mill (1773 - 1836) vốn là một cộng sự của Bentham. Khi chàng trai trẻ Mill lớn lên, cũng giống như cha mình, đã đọc và tham khảo học thuyết Công Lợi mà Bentham đề ra, và viết cuốn Utilitarianism nầy để cổ võ và ủng hộ cho học thuyết của Bentham.
Ngoài tác phẩm ngắn nầy, Mill còn viết cuốn Bàn về tự do (On Liberty. 1859) cổ võ cho tự do cá nhân, nhất là về hai phương diện tư tưởng và ngôn luận, và Về sự Đàn áp Phụ nữ (On the Subjection of Women. 1869) trong đó Mill chỉ trích và phê phán nặng nề việc phụ nữ Anh quốc bị giới hạn tự do trong vai trò xã hội và quốc gia, và một số tác phẩm khác về chính trị và xã hội.
Ở giai đoạn cuối thế kỷ 18 - đầu thế kỷ 19, ở Anh quốc, cũng như khắp Âu châu, bình đẳng giai cấp và giới tính vẫn chưa được công nhận một cách phổ quát. Vì thế, học thuyết Công lợi của Bentham và Mill được xem như là cơ sở tư tưởng cách mạng cho phong trào tranh đấu cho bình đẳng của nhân dân Anh quốc lúc đó.
Mill vốn chống lại chính sách nô lệ khắp nơi, nhưng khi đề cập đến vấn đề chủ nghĩa thực dân, nhất là của Anh quốc ở Ấn độ, thì Mill, vốn là một nhân viên của Công ty Đông Ấn của Anh (British East India), lại cho rằng chính sách của đế quốc Anh ở Ấn Độ là một thể loại “benevolent despotism” (độc tài làm phước) vì cho rằng Ấn độ là một quốc gia man rợ, chưa khai hóa, do đó, không thể áp dụng nguyên tắc bình đẳng của Anh quốc cho dân Ấn được. Mill còn cho rằng những ai lên án việc đế quốc Anh cai trị thô bạo người Ấn thì kẻ ấy không hiểu gì về vấn đề đó cả.
Thuyết Công Lợi nhấn mạnh đến nguyên lý dân chủ khi coi mọi người, bất kể giai cấp, giới tính, trình độ, đều được đánh giá ngang nhau, khi cứu xét lập pháp và chính sách quốc gia và xã hội.
Bentham đã đưa ra câu khẩu hiệu nổi tiếng, “Everyone to count for one, no one to count for more than one”. (Mỗi người được coi như là một, không ai được coi hơn là một). Thuyết nầy nhấn mạnh rằng hạnh phúc và lạc thú của mỗi cá nhân đều bình đẳng. Do đó, khi hoạch định chính sách, hay đề xuất lập pháp, phải xem xét hậu quả của từng vấn đề. Và nguyên tắc cơ bản phải là, hạnh phúc nhiều nhất cho nhiều người nhất (greatest happiness to the greatest number of people).
Đây là một thể loại đạo đức học dựa trên nguyên lý hậu quả (consequentialism). Nó đồng thời cũng là một học thuyết hành vi trên cơ bản cứu cánh luận (mục đích luận, mục đích cuối cùng, mục đích tối hậu = teleology). Hãy xét lấy hậu quả tối cùng để đánh giá hành động hay chính sách. Không có hành động hay chính sách nào tự nó mang tính đạo đức hay vô đạo đức khi tách rời nó ra khỏi những hệ quả mà nó tác động và ảnh hưởng đến.
Nguyên Tắc Công Lợi là gì?
Đó là nguyên tắc Tiện ích (utility) qua công thức “Hạnh phúc lớn nhất” cho nhiều người nhất. Nguyên tắc nầy có thể công thức hóa qua nhiều cách.
Bentham, người đi tiên phong, đã giải thích rằng, “Nguyên tắc tiện ích có nghĩa rằng nó sẽ đồng thuận hay phản bác một hành động, trên bất cứ phương diện nào, căn cứ nơi câu hỏi rằng hành động nầy sẽ gia tăng hay làm giảm sút hạnh phúc của những ai bị ảnh hưởng”. Bởi vì mỗi hành động đều có thể gây ra nhiều hệ quả, xấu hay tốt, hoặc cả hai, vì thế, Henry Sidgwick (1838 - 1900), một triết gia nổi tiếng khác thuộc trường phái nầy nêu lên rằng, khi nghĩ đến hậu quả xấu hay tốt, hãy tính toán để có được một con số đo lường cuối cùng, gọi là “hạnh phúc lời” hay “tiện ích lời” (net happiness, net utility). Nguyên tắc nầy có thể được công thức hóa theo dạng thức mệnh lệnh, “Hãy hành động khi tác hành của nó sẽ đem lại hạnh phúc cao nhất cho nhiều người nhất”.
Như vậy, nguyên tắc nầy đòi hỏi sự đánh giá mỗi hành động trên hậu quả hạnh phúc, không những từ bản chất của hành động nầy, mà còn phải được so sánh với những hành động khác có thể được thi hành trong cùng một hoàn cảnh.
Câu hỏi phải được nêu lên ở đây là, Hạnh phúc là gì?
Cả Bentham và Mill đều định nghĩa hạnh phúc bằng tiêu chuẩn khoái lạc, hay hoan lạc (pleasure). Đây không phải là lần đầu mà hạnh phúc được đo lường bằng niềm hoan lạc. Triết học đạo đức của Aristotle (384 - 322 TCN), được biết đến là luân lý đức hạnh (virtue ethics), cũng lấy hạnh phúc làm cơ sở cho cứu cánh (hay là mục đích tối hậu) của cuộc đời và hành động.
Bentham, người đi tiên phong, đã giải thích rằng, “Nguyên tắc tiện ích có nghĩa rằng nó sẽ đồng thuận hay phản bác một hành động, trên bất cứ phương diện nào, căn cứ nơi câu hỏi rằng hành động nầy sẽ gia tăng hay làm giảm sút hạnh phúc của những ai bị ảnh hưởng”. Bởi vì mỗi hành động đều có thể gây ra nhiều hệ quả, xấu hay tốt, hoặc cả hai, vì thế, Henry Sidgwick (1838 - 1900), một triết gia nổi tiếng khác thuộc trường phái nầy nêu lên rằng, khi nghĩ đến hậu quả xấu hay tốt, hãy tính toán để có được một con số đo lường cuối cùng, gọi là “hạnh phúc lời” hay “tiện ích lời” (net happiness, net utility). Nguyên tắc nầy có thể được công thức hóa theo dạng thức mệnh lệnh, “Hãy hành động khi tác hành của nó sẽ đem lại hạnh phúc cao nhất cho nhiều người nhất”.
Như vậy, nguyên tắc nầy đòi hỏi sự đánh giá mỗi hành động trên hậu quả hạnh phúc, không những từ bản chất của hành động nầy, mà còn phải được so sánh với những hành động khác có thể được thi hành trong cùng một hoàn cảnh.
Câu hỏi phải được nêu l
Mục lục
- Đi tìm một quy luật đạo đức hoàn vũ
- CHƯƠNG 1: Một vài nhận xét chung
- CHƯƠNG 2: Thuyết Công lợi là gì
- CHƯƠNG 3: Điều gì sẽ thúc đẩy chúng ta tuân thủ nguyên tắc tiện ích?
- CHƯƠNG 4: Loại bằng chứng nào chứng thực nguyên tắc đạo đức của thuyết công lợi ?
- CHƯƠNG 5: Về mối liên hệ giữa công lý và tiện ích

