
Tiểu Sử Các Tên Phố Hà Nội
Bộ 1000 eBook Việt Một thời vang bóng
- Nhà xuất bản
- Thanh Sơn
- Ngôn ngữ
- Tiếng Việt
- Định dạng
- EPUB 2.0 · 682 KB
- Số chương
- 5
Giới thiệu
Sau khi thành phố Hà-Nội cho treo những biển tên mới các phố, thì ông Đinh-gia-Thuyết xuất bản cuốn sách « Tiểu-Sử Các Tên Phố Hà-Nội ».
Trong cuốn sách « Tiểu-Sử Các Tên Phố Hà-Nội » tác giả đã tóm tắt tài liệu tên các danh nhân hay các đô thị mà thành phố đã lấy tên đặt cho các phố. Tác-giả còn giải thích lý do đặt tên một vài phố với tên các nước bạn, cùng những danh từ tượng-trưng một ý nghĩa gì.
Đọc Sách Điện Tử Cuốn « Hà-Nội Chỉ-Nam » do tòa Thị-chính xuất-bản cũng có một phần chú-thích tiểu-sử các danh nhân hay các đô thị mà các phố mang tên. Cuốn « Hà-Nội Chỉ-Nam » còn giải thích một vài phố tên các nước bạn hay một danh từ trừu-tượng. Nhưng vì nội dung cuốn Chỉ-Nam chú thích không được đầy đủ.
Điều thiếu sót đó, ông Đinh-gia-Thuyết đã bổ khuyết trong khi phát hành cuốn sách « Tiểu-Sử Các Tên Phố Hà-Nội » này.
Vì vậy, lấy tư-cách là Thị-Trường thành phố Hà-Nội, tôi rất hoan nghinh cuốn « Tiểu-Sử Các Tên Phố Hà-Nội » và xin trân trọng giới thiệu cùng đồng-bào.
Hà-Nội ngày 25 tháng 5 năm 1951 Thẩm-Hoàng-Tín *** Sau ngày mồng 9 tháng 3 năm 1945, ngày mà Đức Cựu-Hoàng-Đế Bảo-Đại tuyên-ngôn độc-lập tại kinh-đô Thuận-Hóa, thì Hà-Nội, nơi cố-đô của Lý, Trần, Lê, nơi nghìn năm văn-vật của Việt-Nam, nơi ba mư ơ i sáu phố phường có đầy rẫy những cổ-tích, những giai-thoại, những ca-dao của dân Bắc-thành, trải ngót 60 năm (1888-1945)
nhập vào nhượng địa Pháp lại được trở về với tổ-quốc, với đồng-bào giữa lúc bao nhiêu đời, bao nhiêu triệu trái tim cùng mong mỏi. Nắng lâu được mưa rào, lẽ di ̃ nhiên là Hà-Nội có một phen gột rửa. Năm 1946, đã có dịp sửa đổi tên phố, nhưng chẳng bao lâu, Hà-Nội lại lâm vào khói lửa, đến nay mới thực hoàn toàn « Hợp phố hoàn châu »!
Cũng như các công sở, từ vườn hoa, đại lộ, cho chí đường, ngõ, của các phố, đều có cái vinh hạnh đeo tấm biển đề tên mới, cái tên bao hàm những kỷ-niệm vẻ vang. Tiếc rằng những tấm biển xinh xắn vuông vắn treo trên cột điện ngã ba đường, chỉ đủ đề mấy chữ tên của vườn hoa, đường, phố, xóm, ngõ mà thôi. Trừ ra những phố gọi theo tên hàng hóa buôn bán như Hàng Đường, Hàng Muối… những nơi gọi theo địa danh như đường Sơn-Tây, phố Bắc-Ninh, ngõ Yên-Thái v.v… người ta có thể hiểu ngay được, còn các nơi khác, đối với người chưa đọc sử, nhất là « Sử-liệu-sống » của ít nhiều tân-nhân-vật, nếu chẳng ù cạc, thì cũng mập mờ, thậm chí có người hiểu sai lạc hẳn, chính chúng tôi đã được mắt thấy tai nghe:
Khi đi qua ngõ Lecornu cũ, một bạn đồng hành đã hỏi: sao có phố « Bà-Triệu » rồi lại còn phố « Ấu-Triệu »?
Và một bà bạn đến chơi nói chuyện mới thuê được nhà ở phố « Đăng-Dung ».
Thì ra ông bạn đã lầm « Thừa-Thiên Liệt-Nữ » (Ấu-Triệu) với « Lệ-Hải bà Vương » (Triệu-Ấu) và bà đã lầm kẻ bán nước cướp nhà Lê (Mạc-đăng-Dung) với một bậc trung-liệt đời Hậu-Trần, có bài thơ « cảm hoài » bất hủ (Đặng-Dung).
Sách Vậy nếu không có một bản « Tiểu-sử các tên phố » để cho người ta cứ không hiểu hay là cứ hiểu lầm như thế, chả cũng phụ mất thâm ý của nhà đương-cục về phương-diện « kiến-thiết tâm-lý » lắm ru!
Chính-phủ đem danh hiệu của các bậc anh-hùng, liệt-nữ, chí-sỹ, văn-nhân, những nơi có chiến-công oanh-liệt, những chỗ hội họp của lịch-sử, để đặt tên các vườn hoa, đường, ngõ, khu, phố là chú ý cho quốc dân soi gương người trước, ngắm việc ngày xưa, mà phấn-khởi, mà khích ngang, mà tranh-đấu, hy-sinh, cho khỏi thẹn là dân một nước tự-do, độc-lập, thì những tranh-đấu, hy-sinh, cho khỏi thẹn là dân một nước tự-do, độc-lập, thì những danh hiệu ấy, quốc dân chính nên hiểu, tất nên hiểu, cần phải hiểu, phải gắng sức tìm cho hiểu, chứ nếu không hiểu hay hiểu sai lạc mất ý nghĩa, thì thực là « chẳng những vô ích lại có hại thêm ».
Để góp một phần nhỏ vào trường hợp trên, chúng tôi, phần khảo-cứu các sử sách, báo chí, phần phỏng-vấn các thức-giả, biên tập cuốn sách nhỏ này, mục-đích không gì hơn là mong để nhắc nhở đồng-bào khỏi nhãng quên những danh-nhân và vãng-sự nước nhà trong mỗi khi bước chân ra, trông thấy tấm biển đề tên phố.
Cuốn « TIỂU-SỬ CÁC TÊN PHỐ HÀ-NỘI » này, trừ ra mấy nơi tên đã rõ nghĩa, như trên đã nói, còn gồm có 215 nơi vườn hoa, đường, ngõ, khu, phố (đặt tên theo thứ tự A, B, C…) cần phải giải thích một cách tóm tắt cho đủ hiểu… Tựu trung có chỗ nào sai lầm, chưa được sác đáng, dám mong các bậc thức-giả sẵn lòng chỉ giáo. Còn muốn khảo-cứu rộng thêm, đã có sử sách cùng liệt truyện của các danh-nhân.
Hà-Nội, ngày 15 tháng 4 năm 1951 Thi-Nham ĐINH-GIA-THUYẾT *** MỤC LỤC: TÊN CÁC PHỐ MỚI VÀ CŨ ĐỐI CHIẾU, ĐẶT THEO A-B-C SỐ +
TÊN PHỐ MỚI – TÊN PHỐ CŨ + KHU A 165 Anh quốc (Grand Britain Street) – Bert (Paul) 15 212 Ăng Toan (Soeur Antoine) – Antoine (Soeur) 31, 32
172 Ấu Triệu (phố) – Lecornu (ruelle Père) 16 B 298 Bà Triệu (phố) – Lê Lợi 26, 21 25 320 Bà Triệu (ngõ) – Voice N o G2, khu
26 153 Bà Huyện Thanh Quan – Morel (rue Rt) 33 351 Bạch Đằng (đường) – khu 36 127 Bạch t hái Bưởi (phố) – Hillaret 14 V Bãi Sậy (vườn) – Puginier (square) 33
179 Báo Khánh (phố) – Pottier (rue) 13 178 Báo Khánh (ngõ) – Voice N o 271, khu 13 217 Bích Câu (phố) – Graffeuil 32 XIX Bình Than (vườn) – Gambelta (square) 19
28 Bùi Viện (phố) – Deydier 4 XV Ba-Lê (vườn) – Foch (place) 15 III Bách Thảo (vườn) – Jardin Botanique 34 VIII Bách Việt (vườn) – Neyret (place) 17
89 Bạc (phố) – Changeurs 9 123 Bè (phố) – Radeaux 7 90 Bồ (phố hàng) – Paniers 3 133 Bông (phố hàng) – Coton 10 211 Bột (phố hàng) – Antoine 12 17
210 Bột (ngõ hàng) – Voie N o 205, khu 31 29 Bún (phố hàng) – Vermicelles 2, 3 30 Bún (ngõ hàng) – Vermicelles (ruelle) 4
5 Buồm (phố hàng) – Voiles 8 99 Bút (phố hàng) – Comban è re 7 91 Bát Đàn (phố) – Vieille des Tasses II 98 Bát Sứ (phố) – Rue des Tasses 7
C 134 Cấm chỉ (phố) – Bl onde 17 161 Cao bá Quát (phố) – Route Tuyên quang 30 121 Cao bá Nhạ (phố) – Nguyễn trọng Hiệp 14
64 Cao Thắng (phố) – Grappin (rue) 5 169 Chân Cầm (phố) – Lagisquet 16 VII Chi Lăng (vườn) – Robin (square) 33 VIII Chí Linh (vườn) – Paul Bert (square) 15
543 Chu mạnh Trinh (phố) – Voie N o 163, khu 28 152 Chu văn An (đại lộ) – Vallenhoven 31, 33 330 Chùa vua (ngõ) – Voie N o
233 Bis, khu 27 334 Chùa vua (phố) – Du m outier (Gustave) 27 352 Chương dương độ (giốc)
– khu 36 327 Cao đạt (phố) – Voie H1, khu 6 213 Cát Linh (phố) – Cát Linh 32 16 Châu Long (phố) – Antoine Bonnet (Ng. công Trứ) 1, 3
14 Châu Long (ngõ) – Châu Long (ruelle) 3 120 Chung Yên (ngõ) – Chung Yên (rulle) 14 67 Chợ Gạo (phố) – Commerce (place) 8
17 Cửa Bắc (phố) – Đỗ hữu Vỵ 22, 24 199 Cửa Nam (phố) – Neyret 17 70 Cá (phố hàng) – Poissonnerie 7 53 Chả cá (phố) – Laque 7
52 Cân (phố hàng) – Balances 10 55 Chai (phố hàng) – Ngõ Ngang 6 205 Cháo (phố hàng) – Bảng nhỡn Đôn 31 117 Chỉ (ngõ hàng) – Hàng chỉ 10
60 Chiếu (phố hàng) – Dupuis 8 79 Chĩnh (phố hàng) – Vases 8 313 Chuối (phố hàng) – Beylié 23 314 Chuối (ngõ hàng) – Impasse Beylié 23
231 Cỏ (ngõ hàng)
– Chân Hưng (cité) 17 56 Cót (phố hàng) – Takou 6 92 Cửa Đông (đại lộ) – Bichot 7 72 Cống Đục (phố) – Etoffes 7 308 Chợ Đuổi (phố) – Goussard 25
131 Cầu Gỗ (phố) – Pont en bois 14 XI Cột Đồng hồ (vườn) – Place C.D.H 9 II Cổ Ngư (đường) – Mal. Lyautey I D XIV Diên Hồng (vườn) – Chavassieux (square) 15
245 Duy Tân (phố) – Route de Huế 26, 21, 25 317 Duy Tân (ngõ) – Sergent Giác 24 239 Dã Tượng (phố) – Lambert (rue) 18 240 Dã Tượng (ngõ) – Lambert (cité) 18
144 Dân Quyền (đại lộ) – R é publique (avenue) 34 338 Đồng Nhân (phố) – Voie N o 232, khu 27 109 Da (phố hàng) – Cuirs 12
185 Dầu (phố hàng) – Rue du Lac 14, 15 Đ 38 Đậu (phố hàng) – Graines 4 39 Đậu (ngõ hàng) – Graines (ruelle) 4 I Đê Yên-phụ – Yên phụ digue 1, 2
XII Đắc L ộ (đường) – Alexandre de Rhodes (square) 15 328 Đại Cồ Việt (đường) – Voie N o 104, 202, 222, Khu 26, 29 157 Đại
La (đường) – Route circulaire, khu N.T 77 Đào duy Từ (phố) – Đào duy Từ 8, 9 31 Đặng Dung (phố) – Dieulefils, voie 94, khu 3
34 Đặng Tất (phố) – Autigeon (Madame) 34 216 Đặng trần
Mục lục
- NHỮNG SÁCH DÙNG ĐỂ KHẢO CỨU
- TỰA
- CÙNG BẠN ĐỌC
- MỤC LỤC : TÊN CÁC PHỐ MỚI VÀ CŨ ĐỐI CHIẾU, ĐẶT THEO A-B-C
- CHÚ GIẢI CÁC TÊN PHỐ











